Thứ Năm, 22 tháng 3, 2012

Làm giàu bằng nghề chụp ảnh boudoir

Boudoir đang ngày càng được nhiều người ưa chuộng, bản thân Hiệp hội Nhiếp ảnh gia Chuyên nghiệp Mỹ đã phải đưa nó vào một mục sản phẩm riêng trong bản tự giới thiệu trên mạng để hội viên đánh dấu


Một thợ ảnh đang tác nghiệp phong cách boudoir


LTS: Boudoir tiếng Anh có nghĩa là phòng ngủ, phòng thay đồ. Trong nhiếp ảnh, thuật ngữ này được dùng để chỉ phong cách chụp trong phòng ngủ (ngày nay người ta hay chụp ở phòng khách sạn hay studio), đối tượng là những phụ nữ bán nuy hoặc chỉ mặc đồ ngủ, đồ lót trong các tư thế gợi cảm, quyến rũ. Loại ảnh này được xem là thời trang của phái nữ nước ngoài, nhất là những người sửa soạn lên xe hoa và muốn dành tặng một  món quà đặc biệt cho người chồng sắp cưới của mình. Ngoài ra, nhiều người đẹp cũng chọn chụp boudoir để lưu giữ làm kỷ niệm hoặc để ghi lại những thay đổi của cơ thể (trước và sau khi giảm cân, nâng ngực, có bầu…). Khác với ảnh nuy, ảnh boudoir tập trung nhiều hơn vào tư thế điệu bộ và vẻ sexy ẩn chứa bên trong chứ không đi trực diện vào hình dáng, đường nét cơ thể.


Trong phòng, chiếc cát xét tua đi tua lại bài “Dirty Picture” (bức ảnh bẩn thỉu) do Taio Cruz và Ke$ha song ca. Cô khách hàng của Jennifer Rozenbaum rụt rè tạo dáng trong mỗi chiếc quần dây bé xíu. Cô tiết lộ là định dùng những bức ảnh chụp này để tặng hôn phu của mình. Từ lâu, cô đã muốn làm một bộ ảnh khêu gợi như thế này nhưng phải đến khi nghe bài hát “Dirty Picture” có anh chàng nam ca sỹ năn nỉ cô người yêu chụp một bức ảnh ‘phóng đãng’ tặng cho mình, cô mới dám ‘đánh liều một phen’.

Nhưng buổi chụp hình hôm đó không hề ‘bẩn thỉu’ như tiêu đề bài hát và Rozenbaum cũng chẳng hề chụp tấm ảnh nào ‘bẩn thỉu’ cả. Công ty Jeneration Photography của cô ở Queen, New York vốn chuyên về phong cách boudoir gợi cảm hơn là sự phô bày xác thịt. Bản thân Rozenbaum cũng chỉ chụp boudoir với mục tiêu tạo ra những tấm hình hấp dẫn, quyến rũ mà thôi.

Kể từ khi khai trương năm 2008 đến nay, Jenerations đã trở thành tiệm chụp hình boudoir lớn nhất thành phố New York. Và có vẻ như Jenerations cũng khá gặp thời. Theo Angela Wijesinge, chuyên gia marketing của Hiệp hội Nhiếp ảnh gia Chuyên nghiệp Mỹ thì “boudoir đang ngày càng được nhiều người ưa chuộng”, bản thân hiệp hội của bà đã phải đưa nó vào một mục sản phẩm riêng trong bản tự giới thiệu trên mạng để hội viên đánh dấu.

Nhưng không phải nhiếp ảnh gia nào cũng có thể đưa boudoir vào danh sách ảnh chụp của mình. Dù mục tiêu của khách hàng là gì – chụp để làm quà tặng cho người thương, để đánh dấu một bước ngoặt trong đời hay chỉ là vì tò mò – thì ngoài kỹ thuật chụp điêu luyện, nhiếp ảnh gia boudoir phải có nhiều năng khiếu khác.

Chụp ảnh chỉ là một phần. Điều quan trọng là làm thế nào để người được chụp cảm thấy tự tin, thoải mái khi để lộ da thịt mình trước ống kính” – Marissa Boucher, người đồng sở hữu The Boudoir Divas – một studio ở San Diego – tiết lộ.



Rozenbaum cũng có cùng quan điểm. Trước bất kỳ buổi chụp nào cô cũng tìm gặp riêng khách hàng của mình để lên dây cót cho họ. Trong quá trình chụp, cô vừa phải tìm góc chụp, tạo tư thế, chỉnh ánh sáng… vừa phải buôn chuyện để khách hàng cảm thấy thoải mái, dễ chịu. Cô nói đủ thứ chuyện, từ chuyện gia đình, con cái cho đến công việc. Nhiều lúc, cô còn tự pha trò về thói xấu của bản thân. Tất cả là nhằm cho khách hàng thấy tiệm chụp hình của cô hoàn toàn không xét nét, đánh giá hay soi mói gì họ.

Một buổi chụp hình thường kéo dài từ 2-5 tiếng, bao gồm cả trang điểm, giải lao và làm album. "Chúng tôi luôn cố làm việc chụp ảnh giống như một trò vui” – Rozenbaum cho biết.

Là bà mẹ trẻ ở nhà chăm con, năm 2008, Rozenbaum bắt tay vào tự học chụp ảnh sau khi cô con gái đi học mẫu giáo. Một lần cô đi cùng một người bạn nhiếp ảnh gia đến một buổi chụp hình boudoir và hoàn toàn bị công việc này hớp hồn.

Chỉ vài tuần sau, Rozenbaum mở tiệm riêng. Cô làm một trang web và post các hình chụp một cô bạn lên. Nhờ đăng quảng cáo trên một trang web cưới hỏi có tiếng tăm, cô ‘tóm’ được khách hàng đầu tiên. Với những ‘comment’ tốt của vị khách hàng này trên các diễn đàn cưới hỏi, nhiều khách hàng khác bắt đầu gọi đến cho Rozenbaum.


Để tiết kiệm tối đa chi phí, Rozenbaum mở tiệm tại nhà và tác nghiệp trong… phòng ngủ của mình. Cô tìm thuê những trợ lý vừa chụp được ảnh vừa biết trang điểm và phối đồ. “Khi bạn làm doanh nghiệp nhỏ, bạn phải tìm người có thể kiêm nhiều công việc khác nhau. Được việc, ít người. Bí quyết là ở đó” – Rozenbaum bật mí. Mãi đến năm 2011, Rozenbaum mới chuyển đến tiệm studio hiện nay để đáp ứng yêu cầu mở rộng kinh doanh.

Rozenbaum không tiết lộ con số cụ thể nhưng cô ước tính doanh thu năm 2011 của Jeneration Photography sẽ tăng gấp tám lần so với năm đầu tiên. Và mới mục tiêu tăng thêm khách hàng ở những gói chụp hình cao cấp, cô tin rằng con số của năm 2012 sẽ còn cao hơn.

Để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, cô đang lên kế hoạch để tung ra gói chụp ảnh đôi. Rozenbaum thừa nhận việc chụp boudoir 2 người có thể làm công việc của cô rẽ sang một hướng khác hoàn toàn nhưng cô vẫn muốn được thử cái gì đó mới. ‘Chúng tôi sẽ phải đặt ra quy định rõ ràng rằng khách sẽ được làm gì và không được làm gì với nhau khi chụp ảnh đôi. Đã là boudoir thì phải đẹp và gợi cảm. Nhưng những gì đi quá giới hạn cũng không chấp nhận được” – Rozenbaun nói chắc như đinh đóng cột.

(Dịch từ Entrepreneur)


Link to full article

Huấn luyện khởi nghiệp từ thung lũng Silicon

Huấn luyện khởi nghiệp từ Thung lũng Silicon from TOPICA FI on Vimeo.

Huấn luyện khởi nghiệp từ Thung lũng Silicon
30 Mentor là Founder thành đạt từ Thung lũng Silicon và Việt Nam
15 Session trong 15 tuần
50 Startups
22 thành phố, 15 nước đã triển khai
Mục tiêu: Khởi nghiệp các doanh nghiệp công nghệ cao

Đăng ký tham gia tại đây (TPHCM, 22/5/2012): http://tba.topica.edu.vn/dangky


Link to full article

Khi chuyên gia cũng bó tay

Khi chuyên gia cũng bó tay

Hỏi chuyện một số chuyên gia kinh tế vì sao dạo này không viết báo nữa, nhiều người trả lời, hầu như các quy luật kinh tế không có tác dụng ở Việt Nam cho nên họ không muốn bị hớ, càng viết e càng sai thực tế.

Mà đúng như thế thật. Lấy chuyện lãi suất làm ví dụ. Ở các nước khác một khi người có thẩm quyền nói lãi suất sẽ phải giảm ngay, hàng loạt tác động lên thị trường sẽ xuất hiện. Chẳng hạn giá trái phiếu chính phủ sẽ tăng vì người ta sẽ đổ tiền ra mua trái phiếu; giá cổ phiếu cũng tăng; tiền đồng sẽ sụt giá so với các đồng tiền khác… Đặc biệt các hiện tượng này càng bị khuếch đại lên nhiều lần nếu người ta có một thời gian xoay xở từ khi biết lãi suất chắc chắn sẽ giảm và đến lúc nó giảm thật sự. Chuyện tăng hay giảm ở các nước khác có khi chỉ là 0,25 điểm phần trăm là đã gây hiệu ứng lớn chứ ít khi lên đến 1 điểm phần trăm như trong trường hợp của Việt Nam.

Trong thực tế, trong khoản thời gian từ lúc có tuyên bố lãi suất phải giảm đến khi nó giảm thật sự, thị trường hoàn toàn yên ắng. Chỉ trừ một hiệu ứng tận dụng thời gian lãi suất chưa giảm, một số người chuyển các khoản tiền tiết kiệm kỳ hạn ngắn từng tháng sang kỳ hạn dài hơn như nguyên năm để sau này lãi suất có giảm, họ cũng không bị ảnh hưởng. Ở đây cũng lạ, chưa thấy ở nước nào người ta có thể biết trước một cách chắn chắn lãi suất sẽ giảm như thế cả. Và các ngân hàng, không phải tất cả đều giảm lãi suất huy động để đối phó với khả năng lãi suất chắc chắn sẽ giảm – thậm chí nhiều nơi còn tận dụng thời gian này để thu hút tiền gởi dài hạn mặc dù phải trả lãi cao.

Không một chuyên gia kinh tế tài giỏi nào có thể lý giải tình hình thị trường như thế ngoại trừ một loại “lý thuyết âm mưu”: biết đâu càng nhiều người chuyển các khoản tiền gởi kỳ hạn ngắn sang kỳ hạn dài là càng đúng với ý muốn của những người làm chính sách.

* * *

Một chuyện khác cũng làm các chuyên gia kinh tế bó tay. Đó là việc nhiều công ty nhấn mạnh vào số lượng tiền mặt lớn công ty đang nắm giữ, coi đó như một thế mạnh của công ty! Báo chí cũng dựa vào các con số này để “phong” “các đại gia tiền mặt” của Việt Nam. Trong điều kiện bình thường, một công ty ôm một mớ tiền mặt là đã thấy sự bất lực không biết sử dụng đồng tiền vào những dự án mới sao cho có hiệu quả. Trong bối cảnh lạm phát, lượng tiền mặt càng lớn, công ty càng thiệt hại, sao lại cho đó là các “đại gia”.

Nếu tiền mặt chuyển thành nguyên liệu sản xuất, đến chu kỳ bán hàng mới, doanh nghiệp mới hy vọng mặt bằng giá cả mới sẽ giúp họ thu hồi vốn và có lãi. Còn tiền mặt nằm yên một chỗ, sẽ bị hao hụt theo lạm phát, trở thành gánh nặng cho doanh nghiệp.

Ở đây, các chuyên gia tài chính cũng lưu ý một hiện tượng: phải phân biệt sự khác nhau giữa đầu tư tài chính lành mạnh và đầu tư tài chính liều lĩnh của các tập đoàn nhà nước đã bị phê phán. Một doanh nghiệp lấy dòng tiền của mình đầu tư vào chứng khoán theo phong trào hay mua cổ phần trực tiếp của các công ty khác trong lĩnh vực địa ốc, chứng khoán… là một quyết định có nhiều rủi ro, cần cân nhắc rất kỹ. Ngược lại, một doanh nghiệp khác có khoản tiền mặt chưa sử dụng đến, đem đi mua trái phiếu chính phủ, là một hoạt động bình thường trong quản trị tài chính. Không khéo, mọi người sẽ dị ứng với cụm từ “đầu tư tài chính” và bỏ quên luôn các quy luật quản trị thông thường.

* * *

Sự bó tay của các chuyên gia kinh tế cũng xuất phát từ cách hiểu sai lệch sự vận hành của nền kinh tế thị trường của các quan chức nhà nước. Ví dụ khi một bộ trưởng đề nghị Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các ngân hàng thương mại khoanh nợ, dãn nợ cho một số doanh nghiệp nào đó, có lẽ ông hiểu nhầm vai trò của NHNN hay không hiểu cơ chế vận hành của hệ thống ngân hàng. Ngay cả với các ngân hàng thương mại nhà nước, NHNN đã từ lâu cũng không thể yêu cầu, chỉ định họ cho vay chỗ này, khoanh nợ chỗ kia được. Điều đáng tiếc, nguyên tắc để các ngân hàng chịu trách nhiệm về các khoản vay của mình đang dần dà bị bỏ quên, việc chỉ định cho vay đối với doanh nghiệp nhà nước lại tái diễn, việc khoanh nợ cho ngân hàng lại xảy ra. Cho nên biết đâu ông bộ trưởng nói đúng và các chuyên gia phê phán sai!

Sự hiểu sai cơ bản về những khái niệm như vốn, tài sản, nợ còn phổ biến nhiều hơn nữa ở các doanh nhân một khi họ lên mặt báo để phân bua điều gì đó. Chẳng hạn tổng giám đốc một công ty gần phá sản vì nợ cùng khắp nói không có gì đáng lo vì đã có đối tác sẵn sàng bỏ ra 80 triệu đô-la mua lại nhà máy, dư sức để trả nợ. Tám mươi triệu đô-la tương đương với chừng 1.700 tỷ đồng trong khi vốn điều lệ của công ty này chỉ có 500 tỷ đồng. Không ai dại gì bỏ ra 1.700 tỷ đồng mua cổ phần của một công ty vốn điều lệ chỉ có 500 tỷ đồng lại gần phá sản, cả trừ phi công ty đang ăn nên làm ra, triển vọng hấp dẫn cỡ Facebook hay Apple!


Link to full article

Ngân hàng zombie và “tài sản độc hại”

- “… Chỉ có một lý do duy nhất mà các ngân hàng đó đã chưa sụp đổ là vì Chính phủ đang hành động như một chỗ chận lại… có nghĩa là đảm bảo những nghĩa vụ tài chính của ngân hàng. Nhưng những ngân hàng đó là những ngân hàng thây ma biết đi, không có khả năng cung cấp tín dụng cho nhu cầu của nền kinh tế… Nên nhớ rằng, chừng nào chúng ta kéo dài cuộc sống của chúng, thì việc thoát khỏi khủng hoảng kinh tế sẽ càng khó hơn… Duy trì là ngăn chặn việc phục hồi kinh tế…”

Những ngân hàng thây ma biết đi – Zombie Banks

Vấn đề đáng lo sợ nguồn tiền những ngân hàng zombie này ăn chính là từ nguồn tiền của người đóng thuế và đấy mới là mối nguy hại cho xã hội...


Giáo sư kinh tế người Mỹ, Paul Krugman – nhận giải thưởng Nobel năm 2008, đã nêu những nhận định trên trong một bài viết của ông vào ngày 23.2.2009 trên báo New York Times. Bài báo này ông tranh luận nhưng vẫn đồng ý với ông Alan Greenspan, cựu thống đốc ngân hàng Trung ương Mỹ, về việc tạm thời quốc hữu hoá một số ngân hàng để tạo thuận lợi cho việc tái cấu trúc được nhanh chóng và trật tự hơn. Khái niệm mà giáo sư Krugman nêu ra để cho rằng một số ngân hàng cần phải được quốc hữu hoá là “Zombie Banks” (tạm dịch những ngân hàng xác chết biết đi – ngân hàng thây ma biết đi...), điều mà trong môi trường hoạt động ngân hàng tại Việt Nam chúng ta ít khi nghe hoặc nếu có thì cũng chưa được chấp nhận rộng rãi.

Thế nào là ngân hàng thây ma – xác chết? Ngắn gọn: (i) Ngân hàng zombie A nào đó có giá trị ròng nhỏ hơn zero, (ii) hoặc ngân hàng zombie B nào đó mà tổng tài sản nợ lớn hơn tổng tài sản, (iii) hoặc ngân hàng zombie C nào đó mà tất cả vốn góp – vốn đăng ký không còn nữa nhưng vẫn được (chính phủ hỗ trợ) cho phép hoạt động.

Những ngân hàng zombie trên bề ngoài của nó không khác gì những ngân hàng bình thường khác nhưng với những thanh tra uy tín của các cơ quan chế tài hoặc chuyên gia phân tích độc lập lão luyện thì không quá khó để biết những tính chất và nội dung zombie được che giấu. Có hai nhóm ngân hàng zombie: (i) ngân hàng zombie chưa bị lộ – tài sản nợ xấu – nợ bẩn và những khoản thua lỗ được che giấu bằng sổ sách giả cùng những thủ thuật kế toán – kiểm toán và tiếp tục hoạt động kinh doanh với nhiều hình thức gian lận và một trong các hình thức thông dụng nhất là Ponzi; và (ii) ngân hàng zombie đã bị lộ – khi tình thế vượt qua mức không còn che đậy được hoặc một vài khách hàng tự khám phá và ngưng giao dịch rồi chính phủ phải can thiệp nhưng vẫn cho phép hoạt động với những giới hạn. Ngân hàng đầu tư Lehman Brothers là một ngân hàng zombie hàng đầu của những ngân hàng zombie khác tại Mỹ và nhiều nơi khác trên thế giới.

Bước đúng kế tiếp là chấp nhận “đau một lần” và phải trả giá bằng tiền thuế của người dân cần cù và các doanh nghiệp lương thiện nhằm giải quyết những khối u ác tính đã được xác định và còn nhỏ.

Ngân hàng zombie có về Việt Nam không?

Cho đến nay, sau khi đề án 254 đã được phê duyệt hai tuần, danh tính các ngân hàng được xếp nhóm 3 – hoạt động dưới mức trung bình và nhóm 4 – hoạt động yếu kém chưa được công bố chính thức rộng rãi. Nhưng, với những người quan tâm hoặc am hiểu trong ngành, chỉ với tính loại suy đơn giản qua công bố của các ngân hàng nhóm 1 và 2, cũng biết được ngân hàng nào thuộc hai nhóm đưới mức trung bình và yếu kém này.

Động thái phân nhóm của ngân hàng Nhà nước vừa qua là một cách rất tinh tế để chỉ điểm những ngân hàng zombie và có nguy cơ biến thành ngân hàng zombie trong hệ thống ngân hàng Việt Nam. Động thái này là một thay đổi lớn và tích cực của Chính phủ và ngân hàng Nhà nước, mặc dù đã trễ.

Tài sản độc hại – tài sản rắc rối

Để (được) trở thành ngân hàng zombie, việc trước tiên là những nghiệp chủ, một nhóm hay ban điều hành của ngân hàng đó không có hoặc đánh mất vai trò chuyên nghiệp đặc biệt và nhất là cái tâm thế tử tế, đàng hoàng tối thiểu. Kế tiếp, họ cấu kết để đưa – rước những tài sản độc hại hoặc rắc rối (toxit assets – trouble assets) vào trong hệ thống các bản báo cáo tài chính của ngân hàng. Đưa nhóm tài sản độc hại vào ngân hàng là cấy mầm cho sự biến dạng tế bào thành những khối u ác tính và lan tràn tàn phá những nhóm tài sản lành mạnh khác.

Nay đã quá rõ ràng. Tài sản độc hại – rắc rối của nhóm ngân hàng zombie tại Mỹ và những nền kinh tế khác tại Âu châu đều có nguồn gốc trực tiếp và gián tiếp đến bất động sản.

Bất động sản – lãnh vực nhà ở – nguồn vốn và tín dụng nhà ở tự nó không có tính chất gì độc hại – rắc rối. Nó chỉ biến tướng và trở thành độc hại – rắc rối khi những nhóm lợi ích gian lận bên ngoài được cấu kết – dàn dựng với những nhóm lợi ích bên trong ngân hàng để chiếm đoạt và thoả mãn lòng tham kiêu ngạo lẫn lòng tham vô độ.

Việt Nam thì sao?

Nhóm và loại tài sản độc hại – rắc rối này có trong hệ thống ngân hàng Việt Nam không? Hẳn nhiên là có nhưng tự nó chưa lớn đến mức tạo ra một cuộc khủng hoảng làm tê liệt nền kinh tế. Rất khó thống kê chính xác, vì cách tính và chuẩn kế toán rất riêng của Việt Nam, với số tài sản độc hại – rắc rối nằm rải rác trong hệ thống ngân hàng và nhất là trong các ngân hàng nhóm 3 và 4 hiện nay. Tuy nhiên, dễ đồng thuận rằng chúng góp phần không nhỏ vào tình hình lạm phát hiện nay.

Bên cạnh các công ty tư nhân và một bộ phận người đầu cơ trong xã hội lao sâu vào những cơn sóng bất động sản từ năm 2005 – 2009 thì hầu hết các tập đoàn, các tổng công ty, công ty nhà nước cũng lao vào, và thậm chí làm vai trò dẫn dắt những dự án hút những lượng vốn lớn trong hệ thống ngân hàng nhưng không thích ứng với nhu cầu thật và lớn của xã hội.

Lối thoát nào?

Những ngân hàng zombie sẽ tạo và sinh ra hàng trăm hàng ngàn công ty zombie và nhóm công ty zombie này đang ôm một lượng lớn các dự án zombie – những khu đô thị, những khu biệt thự, những cao ốc nhà ở văn phòng bỏ hoang và không có thị trường người mua – mua thật ở thật. Đó là mối nguy hại rất thật vì nó đã làm méo mó thị trường vốn, thị trường tín dụng, thị trường chứng khoán… và nếu vẫn còn kéo dài thêm năm 2012 thì hệ quả kinh tế sẽ rất lớn và khó lường được.

Như nhà báo tài chính Yalman Onaran đã viết trong cuốn sách Zombie Banks xuất bản tháng 11.2011: “Những ngân hàng zombie này không ăn thịt người, nó chỉ ăn tiền… Vấn đề đáng lo sợ nguồn tiền những ngân hàng zombie này ăn chính là từ nguồn tiền của người đóng thuế và đấy mới là mối nguy hại cho xã hội…”

Đề án 254 và động thái khoanh vùng các ngân hàng zombie của Chính phủ và ngân hàng Nhà nước hiện nay là bước đi đầu tiên và đúng hướng. Bước đúng kế tiếp là “đau một lần” và phải trả giá bằng tiền thuế của người dân cần cù và các doanh nghiệp lương thiện nhằm giải quyết những khối u ác tính đã được xác định và còn nhỏ. Một chu kỳ thay đổi chiều sâu của hệ thống ngân hàng và sự sống còn, lớn mạnh của từng ngân hàng đang trải ra phía trước.

Đừng trễ nữa vì hệ quả kinh tế và bất ổn xã hội sẽ là cấp số nhân chứ không còn ở cấp số cộng.

Sưu Tầm: kienthuckinhte.com


Link to full article

Những nữ CEO tài ba trong giới kinh doanh

Chỉ chiếm 3% tỷ lệ CEO có mặt trong danh sách Fortune 500, nhưng nhiều người dự đoán, trong thời gian tới số lượng những nhà lãnh đạo nữ sẽ tăng lên mạnh mẽ.

Dưới đây là một số mẫu nữ CEO điển hình, họ luôn đam mê và phấn đầu hết mình để vươn tới đỉnh cao.  

1. Indra Nooyi - Chủ tịch và CEO tập đoàn PepsiCo

Sinh ra tại Ấn Độ, Nooyi từng làm việc cho hãng Johnson&Johnson và Mettur Beardsell, cơ sở Ấn Độ. Năm 1980, bà chuyển đến Mỹ, học thạc sỹ và tốt nghiệp với tấm bằng kinh doanh tại đại học Yale.

Sau khi hoàn thành khóa học, bà làm việc cho nhiều công ty tên tuổi và đều nắm giữ những vị trí hết sức chiến lược. Điển hình là tập đoàn tư vấn Boston, hãng Motorola và Asea Broen Boyeri.

Mãi đến năm 1994, bà mới chính thức gia nhập PepsiCo và trở thành chủ tịch kiêm giám đốc tài chính (CFO) vào năm 2001. Kể từ đó, doanh thu hàng năm của công ty không ngừng tăng trưởng, có lúc vượt mức 72%. Năm 2006 đánh dấu bước ngoặt trong sự nghiệp của Nooyi tại PepsiCo khi bà chính thức được bổ nhiệm vị trí CEO của hãng này.

2. Oprah Winfrey – Chủ tịch hãng Harpo

Bước ra từ một chương trình truyền hình, Winfrey đã xây dựng đế chế truyền thông hùng hậu bao gồm một số tạp chí, kênh sóng radio riêng và một mạng lưới những sự kiện truyền hình.

Với hàng loạt thành công trong sự nghiệp, Oprah đã từng được tạp chí CNN vinh danh là người phụ nữ có tầm ảnh hưởng lớn nhất thế giới. Đồng thời, bà còn là người nắm giữ khối tài sản khổng lồ và là nữ tỷ phú đầu tiên của châu Mỹ.

3. Meg Whitman – CEO Hewlett-Packard (HP)

Trước khi đến với HP, người phụ nữ tài năng Whitman đã từng đóng góp công lớn cho trang mạng eBay khi giúp lợi nhuận của hãng tăng từ 4 lên tới 8 tỷ USD. Ngoài ra, bà cũng là một chính trị gia đáng nể khi tham gia điều hành chính quyền bang California trong một thời gian ngắn.

Sự nghiệp của bà hiện vẫn còn nhiều tranh cãi, tuy nhiên không ai có thể phủ nhận được tài năng hiếm có của bà trong kinh doanh, nhất là ở ví CEO.

4. Sheryl Sandberg – Giám đốc điều hành Facebook

Vào năm 2008, Mark Zuckerberg đã thuê Sandberg, lúc đó đang phụ trách mảng quảng cáo trực tuyến của Google. Đang ở một công ty có lợi nhuận cao, Sandberg đến với Facebook từ những buổi sơ khai, tuy vậy, dưới sự dẫn dắt của bà, doanh thu của Facebook đã tăng vượt bậc nhờ những hợp đồng quảng cáo béo bở. Lợi nhuận tăng cao cũng là một nguyên nhân thúc đẩy Facebook đưa đến quyết định IPO.

5. Brenda Barnes – Chủ tịch kiêm CEO của Sara Lee

Brenda Barnes đã từng gây sốc với báo giới Mỹ khi rời bỏ vị trí CEO của PepsiCo vào năm 1997 để… dành thời gian cho gia đình. Tuy nhiên, niềm đam mê và yêu thích kinh doanh đã kéo bà trở lại với công việc. Chỉ ba năm sau đó, tức năm 1999, bà nắm giữ vị trí chủ tịch lâm thời của Starwood Hotels & Resorts. Song công việc điều hành quản lý khách sạn dường như không phải là mảnh đất màu mỡ để bà phát huy thế mạnh về marketing và quản lý kinh doanh của mình.

Chính vì vậy, vào năm 2004, bà đã chính thức đầu quân cho hãng bán lẻ Sara Lee. Tại đây bà nắm giữ vị trí Giám đốc điều hành (COO) và xây dựng lại toàn bộ công ty, đưa Sara Lee bước sang một trang mới với danh mục sản phẩm đa dạng, thu hút hàng triệu người tiêu dùng trên toàn thế giới.

6. Irene Rosenfeld – Chủ tịch kiêm CEO Kraft Foods

Khi được bổ nhiệm vào vị trí CEO của Kraft Foods vào năm 2006, hãng này đang gặp nhiều khó khăn và phải tập trung vào việc cắt giảm nhân lực cùng các chi phí khác. Rosenfeld nhanh chóng thay đổi các tầng lớp quản lý và chuyển ngược tình thế của công ty.

Năm 2011, Kraft Foods bất ngờ tuyên bố chia tách thành hai công ty trong đó, bà Rosenfeld đảm nhiệm công ty chủ quản của những thương hiệu đồ ăn nhanh quốc tế.

Trên đây là 6 người phụ nữ tài ba, họ đã đạt được đến đỉnh vinh quang của sự thành công. Tuy nhiên, như đã nói, trong vài năm tới, chúng ta đang kỳ vọng sẽ có nhiều phụ nữ hơn nữa nắm giữ vị trí quan trọng của công ty như CEO, COO… Dưới đây là 3 nhân vật đang được kỳ vọng nhiều nhất.

7. Jessica Mah - Đồng sáng lập kiêm CEO inDinero

Mah thành lập công ty của riêng mình từ năm 12 tuổi. Kể từ đó, cô đã hoàn thành tấm bằng về khoa học máy tính tại trường đại học California và Berkley. Cùng với một số người bạn khác, cô đồng sáng lập nên inDinero, thời điểm này cô chưa tròn 22 tuổi.

8. Carii Sommer – Đồng sáng lập Urban Interns

Nhờ có một quãng thời gian làm việc trong công ty luật, Sommer hiểu rõ về luật pháp hơn ai hết, đây chính là lợi thế giúp cô giải quyết một số vấn đề nảy sinh trước khi thành lập nên công ty của riêng mình.

9. Dina Kaplan – Đồng sáng lập Blip.tv

Kaplan đã từng đoạt giài Emmy cho biên tập viên truyền hình xuất sắc trước khi thành lập nên Blip.tv, trang mạng cung cấp trên 50.000 bản quyền chương trình truyền hình và nhận được hơn 90 triệu lượt người xem mỗi tháng.

Lan Trinh

Theo Finance Edge


Link to full article

Những ý tưởng kinh doanh lạ đời đáng giá triệu USD

Thoạt nghe những ý tưởng này không ít người cho rằng tác giả của chúng viển vông hoặc nhẹ hơn là…thích nói đùa. Vậy nhưng chính những sáng kiến “không giống ai” đó lại đang đem về hàng triệu USD cho những người dám theo đuổi đến cùng.

1. Kính mát dành cho…chó

Kính râm giúp các chú chó trông thật sành điệu

Đây là ý tưởng của Roni Di Lullo năm 1997 trong một ngày đi dạo trong công viên dành cho chó ở gần nhà. Chú cún cưng của bà là MidKnight, rất nhạy cảm với ánh sáng và khá khó khăn khi đuổi bắt vật dụng mà chủ ném ra. “Khi ấy tôi đang đeo kính mát và chợt nghĩ, tại sao không đeo cho nó thứ gì đó”. Vậy là bà tự làm cho MidKnight một cặp kính.

Từ chỗ tận dụng vật liệu sẵn có, bà lấy luôn cả tiền tiết kiệm ra đầu tư để thiết kế những kiểu kính khác nhau cho phù hợp với từng khuôn mặt của mỗi chú chó. Vậy là thương hiệu Doggles ra đời giúp các chú chó có thể đi xe hơi mà thoải mái ngó đầu ra ngoài cửa hóng gió, không lo nắng, tia tử ngoại hay bụi bẩn. Hàng năm công ty của Di Lullo đang đạt doanh số tới 3 triệu USD và giờ còn mở rộng sang cả sản xuất túi xách, áo phao và đồ chơi cho mèo.

2. Đồng hồ báo thức…biết chạy

Đồng hồ báo thức biết chạy là giải pháp cho những ai ham ngủ nướng

Gauri Nanda, sinh viên của học viện công nghệ Massachusetts rất ham ngủ và cứ mỗi lần đồng hồ báo thức kêu, cô lại tắt chuông ngủ thêm vài lần. Vậy nên khi phải thiết kế một sản phẩm theo yêu cầu của thầy giáo, ý tưởng về một chiếc đồng hồ báo thức “biết chạy” xuất hiện. Với 2 bánh xe được gắn vào, mỗi khi đến giờ báo thức mà chủ nhân nhấn nút tắt chuông, chiếc đồng hồ báo thức sẽ lăn từ trên tủ đầu giường xuống và chạy khắp phòng, buộc kẻ ham ngủ phải choàng dậy đuổi theo để tắt chuông.

Khi tốt nghiệp Nanda lấy chiếc đồng hồ mẫu ngày nào ra và kêu gọi tài trợ từ gia đình để bắt đầu sản xuất. Từ đó thương hiệu Clocky ra đời. Đến nay nó đã có mặt ở trên 45 quốc gia với hàng nghìn nhà phân phối, đem về doanh thu gần 10 triệu USD mỗi năm. Hiện công ty còn cho ra đời loại đồng hồ không cần bánh xe mà tự lăn đi bằng động năng.

3. Hàm răng giả…kinh dị

Hàm răng giả Billy Bob cho những ai thích chơi trội

Bị làm phiền bởi một người có hàm răng siêu xấu trong một trận bóng đá ở trường năm 1994, Jonah White tìm hiểu và biết rằng người đàn ông đó là Rich Bailey và hàm răng đó là giả, được đeo vào với mục đích gây chú ý. Vậy là ông nhờ Bailey làm cho mình 1 bộ. Không lâu sau White và Bailey bắt đầu kinh doanh bộ răng giả Billy Bob Teeth. Ban đầu họ chỉ dám làm và bán từng bộ một nhưng đến nay, White đã có vốn để mở rộng sản xuất sang cả dép xăng-đan, các loại mũ nhờ doanh thu lên tới 50 triệu USD từ hàm răng giả Billy Bob Teeth.

4. Dĩa lai dao

Sản phẩm dĩa lai dao của Knork

Không ít người cảm thấy chán ngán vì lúc nào ra bàn ăn cũng phải dùng 1 bộ dao và dĩa (nĩa) đi kèm. Vậy tại sao không dùng một chiếc dĩa mà có thể cắt được như dao? Ý tưởng này đã được Mike Miller ấp ủ từ hồi học lớp 8 khi đang cố ăn chiếc pizza của mình bằng dĩa. Quan sát thấy một nhân viên nhà hàng dễ dàng cắt chiếc bánh với dụng cụ có mép vát, vậy là Miller nghĩ đến việc sản xuất những chiếc dĩa có cạnh được làm vát đi.

Dù vậy cũng mãi đến khi học đại học năm 2001 cậu mới bắt tay vào triển khai dự án với số tiền 10.000 USD vay từ ông bà. Sản phẩm mẫu đầu tiên được dùng ngay trong gia đình. Vài năm sau chúng được sản xuất đại trà với thương hiệu Knork và nhanh chóng được đón nhận. Năm 2011, doanh số của Knork Flatware đạt gần 2 triệu USD.

5. Búp bê xấu xí

Những con búp bê xấu xí này đã đem về doanh thu 100 triệu USD

Mặc dù có hình dáng không hề dễ thương như những búp bê khác, nhưng doanh số mà những con búp bê kinh dị mang lại cho chủ nhân của nó thật đáng khát khao: hơn 100 triệu USD kể từ ngày ra đời. Tất cả bắt đầu năm 1996 khi Sun-Min Kim và David Horvath gặp nhau hồi còn là học sinh trường thiết kế Parsons School. Họ buộc phải chia tay ít năm sau do Kim chuyển về Hàn Quốc và chỉ thường liên lạc bằng thư. Trong một lần viết thư Horvath vẽ một nhân vật nhỏ màu da cam và đặt tên cho nó là Wage ở cuối thư.

Kim khiến bạn mình vô cùng ngạc nhiên khi tự thêu một búp bê theo hình vẽ đó rồi gửi tặng bạn trai. Trong một lần vô tình Horvath mang búp bê này tới một cửa hàng dành cho dân mê nhạc Pop châu Á ở Los Angeles, người chủ đã đề nghị đặt hàng. Phải mất vài tháng Kim mới thêu thêm một số mẫu mới nhưng ngay khi xuất hiện ở cửa hàng chỉ ngày hôm sau đã bán hết sạch. Kể từ đây Kim và Horvath quyết định mở công ty lấy tên là Pretty Ugly năm 2002 và cũng kết hôn với nhau để chấm dứt cảnh xa cách.

Thanh Tùng
Theo CNBC


Link to full article

Thứ Tư, 21 tháng 3, 2012

Tạm biệt nhé tình yêu của tôi!

  Tôi sẽ nhớ mãi về em – người con gái tôi yêu! Xin lỗi em, xin lỗi em về tất cả. Tôi gặp lại em rất tình cờ nhưng cũng có thể coi là duyên phận chăng? Giữa lòng … Continue reading
Link to full article