Thứ Năm, 15 tháng 12, 2011

Việt Nam: Cần thận trọng với ảnh hưởng của nhóm lợi ích

Việt Nam: Cần thận trọng với ảnh hưởng của nhóm lợi ích

Tác giả: Lê Hồng Hiệp (Khoa Quan hệ Quốc tế, ĐHKHXN&NV, ĐHQG - TPHCM)
Bài đã được xuất bản.: 21/05/2010 06:00 GMT+7

Trong thời gian chờ đợi một đạo luật về ứng xử với các nhóm lợi ích, có lẽ điều quan trọng nhất cần phải làm đối với các nhà hoạch định chính sách chúng ta lúc này chính là: Hãy luôn luôn cảnh giác với ảnh hưởng của các nhóm lợi ích.
Trên thế giới, đặc biệt ở các nền dân chủ phát triển, các nhóm lợi ích đã tồn tại từ lâu và ngày càng có ảnh hưởng lớn tới chính sách của các quốc gia. Các nhóm lợi ích là một trong số các chủ thể tham gia vào môi trường chính trị trong nước của một quốc gia; cũng chính là tập hợp các cá nhân và tổ chức chia sẻ những lợi ích nhất định, hoạt động với mục đích thông qua nhiều biện pháp khác nhau tác động tới chính quyền nhằm tạo ra các quyết định chính sách có lợi nhất cho họ.
Các nhóm lợi ích thường sử dụng biện pháp vận động hành lang (lobby) để tác động tới các chính sách của chính quyền. Trên thế giới, các hoạt động vận động hành lang phổ biến bao gồm điều trần trước một phiên họp của các nhà lập pháp để kiến nghị những chất vấn chính thức và không chính thức, gửi những kết quả nghiên cứu hay thông tin kỹ thuật tới các quan chức có liên quan, tìm cách quảng bá một chủ đề, soạn thảo những dự luật có thể được đệ trình lên cơ quan lập pháp, tổ chức chiến dịch viết thư gửi các nhà lập pháp, và tất nhiên là cả tài trợ tài chính cho các ứng cử viên tranh cử vào các cơ quan lập pháp cũng như các cơ quan tham mưu chính sách có ảnh hưởng.
Từ câu chuyện nước Mỹ
Trên thế giới, đặc biệt là ở các nền dân chủ phát triển, các nhóm lợi ích đã tồn tại từ lâu và ngày càng có ảnh hưởng lớn tới chính sách của các quốc gia. Ví dụ, ngày nay ở Mỹ tồn tại hơn 22.000 nhóm lợi ích có tổ chức,[1] được hình thành trên cơ sở lợi ích về kinh tế, sắc tộc, tôn giáo, giới tính... và hoạt động trên nhiều lĩnh vực khác nhau như thương mại, nghiệp đoàn, tiêu dùng, nhân quyền, bảo vệ môi trường...
Một ví dụ tiêu biểu về các nhóm lợi ích ở Mỹ chính là cộng đồng người Do Thái tại nước này.[2] Với sức mạnh tài chính và khả năng ảnh hưởng rộng lớn thông qua các giới chức gốc Do Thái trong chính quyền, cộng đồng Do Thái đã tác động mạnh mẽ tới chính sách của Mỹ đối với khu vực Trung Đông nói chung và Israel nói riêng.
Các nhóm lợi ích là một trong số các chủ thể tham gia vào môi trường chính trị trong nước của một quốc gia.
Cộng đồng Do Thái đã thành công trong việc đảm bảo một chính sách Trung Đông của Mỹ có lợi cho Israel từ việc viện trợ quân sự và kinh tế đến giải quyết cuộc xung đột giữa người Ảrập và người Israel. Ví dụ, mặc dù là một quốc gia có nền kinh tế phát triển nhưng năm 2005 Israel vẫn là quốc gia đứng thứ hai trong danh sách các nước nhận nhiều viện trợ kinh tế và quân sự nhất từ Mỹ, chỉ sau quốc gia đang bị chiến tranh tàn phá là Iraq.[3]
Các nhóm lợi ích về kinh tế cũng có tầm ảnh hưởng hết sức mạnh mẽ đối với các chính sách của Mỹ. Ngày nay các công ty Mỹ đang bành trướng hoạt động của mình ra toàn cầu nhằm tối đa hóa lợi ích. Tuy nhiên nhiều khi lợi ích của các công ty lại không trùng hợp với lợi ích của chính quyền Mỹ, cụ thể như việc Mỹ cấm vận kinh tế Việt Nam, hay không cấp quy chế quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR) cho Trung Quốc trước đây đã từng ảnh hưởng tới cơ hội đầu tư, kinh doanh của các công ty Mỹ. Chính vì vậy giới doanh nghiệp Mỹ đã từng vận động hành lang đòi chính quyền Mỹ chấm dứt cấm vận kinh tế đối với Việt Nam và cấp quy chế PNTR cho Trung Quốc, đồng thời ủng hộ nước này gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).
Ngoài ra trong nhiều trường hợp các nhóm lợi ích này cũng là người châm ngòi cho các tranh chấp thương mại giữa Mỹ với các nước khác, mà một ví dụ quen thuộc với người Việt Nam chính là việc Hiệp hội các chủ trang trại cá da trơn Mỹ tiến hành chiến dịch vận động áp thuế chống bán phá giá đối với các mặt hàng cá da trơn của Việt Nam cách đây gần 10 năm.
Nhìn chung sức mạnh của các nhóm lợi ích nằm ở khả năng tài chính cũng như mối liên hệ của các nhóm này với giới chức trong chính quyền. Sức mạnh tài chính càng lớn thì các nhóm lợi ích càng có nhiều khả năng tác động lên chính sách của chính quyền bởi việc cung cấp tài chính cho các chiến dịch tranh cử vào quốc hội, thậm chí bầu cử Tổng thống, luôn đảm bảo cho các nhóm lợi ích có được một ảnh hưởng nhất định đối với lập trường của các ứng cử viên thành công.
Mặt khác, các nhóm lợi ích, đặc biệt là các nhóm về kinh tế, càng có nhiều cơ hội thành công hơn trong việc vận động chính sách nếu như họ có mối quan hệ với các nhân vật trong chính quyền. Theo Luật về Xung đột lợi ích của Mỹ thì khi tham gia vào chính quyền các quan chức phải từ bỏ vị trí trong các công ty của mình nhằm đảm bảo thái độ khách quan trong công việc và không bị các động cơ tư lợi thúc đẩy đưa ra những chính sách sai trái.
Tuy nhiên hầu hết các quan chức này vẫn giữ một mối liên hệ nhất định với các công ty nơi mình từng làm việc, đại diện bởi các nhóm lợi ích, thông qua các mối quan hệ cũ cũng như các lợi ích tài chính (nhiều quan chức hay người thân vẫn nắm giữ cổ phiếu của các công ty). Vì vậy việc các viên chức trong chính quyền có xu hướng ủng hộ những chính sách có lợi cho các công ty mà họ có mối liên hệ là điều khó có thể tránh khỏi.
Các nhóm lợi ích, đặc biệt là các nhóm về kinh tế, càng có nhiều cơ hội thành công hơn trong việc vận động chính sách nếu như họ có mối quan hệ với các nhân vật trong chính quyền.
Một ví dụ tiêu biểu cho nhận định trên chính là tác động của tổ hợp công nghiệp quân sự, một nhóm lợi ích liên kết các công ty sản xuất vũ khí với giới chức chính quyền, đối với các chính sách quân sự và chi tiêu quốc phòng của Mỹ. Các nhà nghiên cứu đã tìm được các bằng chứng cho thấy tác động của các công ty sản xuất vũ khí đối với các chính sách quân sự - ngoại giao của các chính quyền Mỹ thời kỳ hậu Chiến tranh lạnh như can thiệp vào Kosovo và Iraq; mở rộng NATO; hay phát triển hệ thống phòng thủ tên lửa đạn đạo NMD.[4]
Đến câu chuyện ở Việt Nam
Ở Việt Nam khái niệm nhóm lợi ích chưa thực sự phổ biến. Tuy nhiên trên thực tế các nhóm lợi ích đã xuất hiện và phát triển một cách tự nhiên song song với các đổi mới trong đời sống kinh tế - chính trị của đất nước những năm qua. Cũng như ở các quốc gia khác, các nhóm lợi ích của Việt Nam chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế.
Chúng ta có thể kể đến một loạt các nhóm lợi ích tiêu biểu ở Việt Nam trên lĩnh vực kinh tế như Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA), Hiệp hội Cao su Việt Nam (VRA), Hiệp hội Cà phê Ca cao Việt Nam (VICOFA), Hiệp hội các nhà Sản xuất Ô-tô Việt Nam (VAMA), Hiệp hội các nhà Đầu tư Tài chính Việt nam (VAFI), Hiệp hội Bất động sản TP.HCM (HOREA)...
Bên cạnh các hiệp hội, nhóm lợi ích có tổ chức và đăng ký hoạt động chính thức như trên, ở Việt Nam hiện nay còn tồn tại rất nhiều các nhóm lợi ích nhỏ lẻ khác, đôi khi chỉ liên quan tới một số công ty, cá nhân... tập hợp lại như một liên minh tự nhiên khi họ có lợi ích chung bị ảnh hưởng.
Nhìn chung thời gian qua các nhóm lợi ích đã tích cực hoạt động nhằm bảo vệ lợi ích cho các thành viên của mình, như việc VASEP điều phối việc tham gia vụ kiến chống bán phá giá cá da trơn ở Mỹ của các công ty thủy sản Việt Nam, hay VAFI thường xuyên đưa lên Ủy ban Chứng khoán Nhà nước các kiến nghị liên quan đến chính sách phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam có lợi cho các nhà đầu tư...
Tuy nhiên một điều dễ nhận thấy là trong đa số các trường hợp lợi ích của các nhóm lợi ích sẽ mâu thuẫn với lợi ích cộng đồng, thậm chí là lợi ích quốc gia. Ví dụ như chính sách hạn chế phát triển phương tiện giao thông cá nhân nhằm giảm sức ép lên hạ tầng giao thông, giảm kẹt xe sẽ đụng chạm lợi ích của các nhà sản xuất ô-tô, xe máy; áp thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động đầu tư - kinh doanh chứng khoán sẽ ảnh hưởng tới lợi ích của các thành viên VAFI... Hay trong cuộc tranh luận năm 2009 về việc có nên cho phép tiến hành các dự án khai thác tài nguyên ở Tây Nguyên hay không chúng ta có thể thấy thấp thoáng ít nhiều trong đó sự mâu thuẫn giữa mối quan tâm của cộng đồng về môi trường - sinh thái khu vực Tây Nguyên với lợi ích kinh tế của các nhà khai thác khoáng sản.

Link to full article

Các công cụ điều hành chính sách tỷ giá ở Việt Nam

Các công cụ điều hành chính sách tỷ giá ở Việt Nam

1.Các công cụ tác động trực tiếp lên tỷ giá
Là hoạt động của NHTW các nước trong việc mua bán đồng nội tệ nhằm duy trì một tỷ giá cố định (trong chế độ tỷ giá cố định) hay ảnh hưởng làm cho tỷ giá thay đổi đến một mức nhất định theo mục tiêu đã đề ra (trong chế độ tỷ giá thả nổi).Để tiến hành can thiệp thì NHTW phải có một lượng dự trữ ngoại hối đủ mạnh .Các hoạt động thay đổi cung tiền trong lưu thông có thể làm cho nền kinh tế bị áp lực lạm phát hoặc thiểu phát chính vì vậy đi kèm với các hoạt động can thiệp trục tiếp thì NHTW phải sử dụng thêm nghiệp vụ thị trường mở để hấp thụ lượng dư cung hoặc bổ sung sự thiếu hụt tiền tệ trong lưu thông .
1.1 Nghiệp vụ thị trường mở nội tệ
-Đây là nghiệp vụ dễ dàng thực hiện và có tác động trực tiếp đến tỷ giá hối đoái.Nghiệp vụ này tác động đến cung tiền trong nước, NHTW đóng vai trò là người mua bán tiền tệ trực tiếp cuối cùng trên thị trường liên ngân hàng tại một mức tỷ giá nào đó.Để công cụ này có hiệu quả thì quốc gia phải có lượng dự trữ ngoại tệ lớn.
-Trong lưu thông khi mà ngoại tệ bị thừa dẫn đến ảnh hưởng đến đồng VND bị định giá cao làm ảnh hưởng đến xuất khẩu thì NHTW tiến hành mua mua ngoại tệ vào và đẩy VND ra nhằm làm tỷ giá ổn định.
-Khi tính thanh khoản của các tài sản tài chính bị giảm xuống do thị trường thiếu VND thì NHTW cũng tiến hành hút ngoại tệ vào và bơm VND ra lưu thông.
-Khi nền kinh tế phát triển mạnh thu hút các luồng vốn ngoại tệ chảy vào cùng với các luồng kiều hối đổ về làm cho lượng ngoại tệ tăng lên tuy nhiên khi đầu tư vào Việt Nam thì phải quy đổi lượng vốn ngoại tệ này sang VND nên NHTW sẽ mua lượng ngoại tệ này và bơm VND ra ngoài.Tuy nhiên như vậy sẽ gia tăng áp lực lạm phát khi đó chính phủ sẽ phát hành các công cụ nợ để hút lượng VND từ lưu thông về nhằm chi tiêu cho các dự án quốc gia, nếu chính phủ không có khả năng hút ngoại tệ nữa thì khi đó NHTW sẽ ra tay phát hành các loại công cụ nợ như tín phiếu và hối phiếu để hút VND về như vậy áp lực lạm phát sẽ được giảm thiểu.
-Để đảm bảo cho công cụ này hoạt động thì dự trữ ngoại hối của Việt Nam phải đủ mạnh tuy nhiên theo thống kê cho cho ta thấy tình hình nhập siêu của VN như sau

Đơn vị: tỷ USD
2006 2007 2008 2009
2.8 8.2 17.5 12


Điều này đã làm cho dự trữ ngoại hối của Việt Nam biến chuyển như sau:
2008 2009 2010
23 14.1 15.4

Theo dự báo của IMF thì dự trữ ngoại hối của Việt Nam năm 2011 là 19.2 tỷ USD.Theo thông tin thì tháng 1/2010 lượng kiều hối đã tăng 30.5% so với cùng kỳ năm trước, tới cuối tháng 6 có khoảng 3.6 tỷ USD kiều hối tuy nhiên trong năm 2009 do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu nên kiều hối, du lịch, đầu tư.. bị giảm xuống rất nhiều nên theo quan điểm cá nhân thì mức tăng này cũng không đáng kể nên với mức dự trữ quá mỏng như thế này thì việc áp dụng công cụ mua bán ngoại tệ, nội tệ (hoán đổi ngoại tệ) để tác động lên tỷ giá của NHTW là khá yếu (so với các nước khác ví dụ Trung Quốc-2447.1 tỷ USD).Thực tế thì cho đến cuối tháng 6 đầu tháng 7/2010 thì tình hình thị trường nội tệ và ngoại tệ vẫn bình ổn về tính thanh khoản có nghĩa là không dư thừa cũng như không thiếu hụt cho nên cho đến thời điểm hiện tại thì công cụ này cũng chưa cần thiết ( đến tháng 6 thì lượng ngoại tệ mà các NHTM hoán đổi với NHTW là 600 triệu USD).

1.2 Nghiệp vụ thị trường mở thuần tuý
-Nghiệp vụ này được sử dụng để thay đổi lượng cung tiền lưu thông từ đó làm thay đổi tỷ giá hoặc lãi suất thông qua việc mua bán các giấy tờ có giá.Để công cụ này hoạt động có hiệu quả cần các điều kiện sau:
 Môi trường hoạt động của nghiệp vụ này là thị trường chứng khoán nên cần một thị trường chứng khoán phát triển để phát huy được tác dụng.Tuy nhiên nghiệp vụ này vẫn có thể được sử dụng trên thị trường tiền tệ hoặc thị trường vốn.
 Các loại chứng khoán được giao dịch bằng nghiệp vụ này phải có độ rủi ro thấp, tính thanh khoản cao, ổn định và quen thuộc với tầng lớp dân cư.
 Nghiệp vụ này phải được tiến hành một cách khách quan, không tạo ra xung đột lợi ích, vai trò của NHTW với các thành viên là ngang nhau.
 Có một cơ chế giám sát lượng cung cầu tiền và giá cả của các loại chứng khoán được mua bán nhằm có thể thực hiện việc giao dịch một cách thường xuyên phù hợp với nhu cầu trong lưu thông.
-NHTW là người chủ động lựa chọn thành viên tham gia trên thị trường.Các đối tác này phải thoả mãn: có tình hình tài chính lành mạnh và việc giao dịch với các đối tác đó có lợi cho việc thực hiện chính sách tiền tệ của NHTW.Mức độ thứ bậc sẽ phân chia như sau:
 NHTM và các tổ chức tín dụng: là trung gian tài chính cho nền kinh tế, khi NHTW tác động đến thì chính là tác động lan toả đến toàn bộ nền kinh tế.
 Các tổ chức tài chính phi ngân hàng: là nơi huy động được một lượng lớn vốn dư thừa của xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nên NHTW muốn tác động đến lưu thông tiền tệ thì cần tác động đến đội tượng này.
 Các khách hàng lớn
-Nghiệp vụ này ngoài chức năg tác động đên lãi suất còn có chức năng duy trì một tỷ giá hối đoái cố định với một số loại ngoại tệ nào đó.Trong trường hợp bản vị vàng thì nghiệp vụ này được sử dụng để duy trì tỷ giá tương ứng với biến động giá vàng (nghĩa là giá trị nội tệ cố định với giá vàng).
-Tuỳ thuộc vào tầm quan trọng của đối tác mà dẫn đến sự hiệu quả của nghiệp vụ thị trường mở.Nếu trong nền kinh tế mà hệ thống NHTM là nơi tích tụ nhiều vốn thì việc tác động duy nhất đến hệ thống NHTM là có thể tác động lan toả đến toàn bộ nền kinh tế chứ không nhất thiết phải tác động đến toàn bộ các đối tác.
-Nghiệp vụ thị trưởng mở có thể tác động một cách linh hoạt lên cung tiềntác động lên tỷ giá và giảm thiểu các thủ tục hành chính rườm rà vì bản thân NHTW khi thực hiện nghiệp vụ thị trường mở được xem như là một chủ thể kinh doanh bình đẳng trên thị trường nên có thể chủ động một cách nhanh chóng trong mua và bán giấy tờ có giá và chính vì vai trò kinh doanh này của NHTW mà khi thực hiện chính sách tiền tệ thông qua công cụ này cũng sẽ dễ dàng hơn ví dụ như có thể tăng lãi suất để hấp dẫn các thành viên mua giấy tờ có giá.
-Ở Việt Nam đa số là mua bán tín phiếu kho bạc tuy nhiên với tình hình thâm hụt ngân sách hiện nay ở VN thì tín phiếu kho bạc mang chức năng tài trợ cho thâm hụt là chính chứ chưa phát huy được tác dụng là công cụ của thị trường mở nhằm kiểm soát lượng tiền cung ứng để tác động lên tỷ giá.
-Bộ tài chính và NHNN cùng nắm chính sách tiền tệ nên có trường hợp NHNN ra mục tiêu “thắt chặt tiền tệ” còn bộ tài chính thì lại “nới lỏng tín dụng” do bị đọng vốn, điều này dẫn đến giảm bớt đi sự hiệu quả của nghiệp vụ thị trường mở.
-Tại Việt Nam thì các mặt hàng giấy tờ có giá kinh doanh trên thị trường mở còn hạn chế, hệ thống hạ tầng kỹ thuật và trình độ nhân lực phục vụ cho nghiệp vụ này còn kém.Các quy trình liên quan đến thị trường mở (đấu thầu..) còn nhiều vướng mắc cần được cải tiến, số phiên giao dịch còn thấp và số thành viên tham gia thị trường mở còn quá ít so với quy mô các tổ chức tín dụng đông đảo hiện nay đang có tại Việt Nam.

-Trong 6 tháng đầu năm 2010 thì NHTW đã thực hiện tăng lượng tiền cung ứng thông qua việc điều hành linh hoạt nghiệp vụ thị trường mở chủ yếu là chào mua giấy tờ có giá 7 ngày và 28 ngày, giảm lãi suất kỳ hạn 7 ngày từ 7.8%/năm xuống 7.5%-7% /năm, đây là một trong các biện pháp mà NHTW thực hiện để thực hiện tăng trưởng tín dụng theo chỉ đạo của CP 20-25% trong năm 2010.

1.2 Nghiệp vụ kết hối
-Là việc chính phủ quy định với các thể nhân và pháp nhân có nguồn thu ngoại tệ phải bán một tỷ lệ nhất định trong một thời hạn nhất định cho các tổ chức được phép kinh doanh ngoại hối.
- Biện pháp này được áp dụng trong thời kỳ khan hiếm ngoại tệ giao dịch trên thị trường ngoại hối.
-Mục đích chính của biện pháp này là tăng cung ngoại tệ để đáp ứng nhu cầu ngoại tệ cho thị trường, hạn chế hành vi đầu cơ và giảm áp lực phá giá đồng nội tệ.
Ví dụ:Năm 1997 do ảnh hưởng của khủng hoản tiền tệ nên các doanh nghiệp đều giữ ngoại tệ làm cho cung cầu ngoại tệ mất cân đối CP ra quyết định 197/QĐ-TTg về nghĩa vụ bán và quyền mua ngoại tệ của người cu trú là các tổ chức với tỷ lệ kết hối bắt buộc là 80%.Sau một thời gian khi tình hình ngoại tệ đã bớt căng thẳng hơn thì 30/8/1999 CP đã có quyết định giảm tỷ lệ kết hối xuống còn 50% sau đó xuống 30%.
-Quy định hạn chế đối tượng được mua ngoại tệ, quy định hạn chế mục đích sử dụng ngoại tệ, quy định hạn chế số lượng người mua ngoại tệ, quy định hạn chế thời điểm mua ngoại tệ .Tất cả các biện pháp này để giảm áp lực thiếu hụt ngoại tệ, tránh đầu cơ và giữ cho tỷ giá cố định.
-Thực tế cho thấy việc sử dụng nghiệp vụ hành chính kết hối ngoại tệ đưa lại nhiều điều tiêu cực như sau:
 Vi phạm quy chế của Việt Nam khi gia nhập WTO về việc không được sử dụng phương pháp hành chính trong điều hành tiền tệ.
 Thiệt hại cho các nhà xuất khẩu do khi kết hối thì tỷ giá quy đổi VND/ngoại tệ sẽ thấp hơn mức thị trườnggây ra tâm lý mất niềm tin trong thị trường.Đồng thời như vậy thì các nhà nhập khẩu sẽ được lợinhập siêu tăng nền sản xuất trong nước bị phá huỷ dần dần.
 NHTM không đủ USD để cung cấp cho các nhà nhập khẩu nếu kết hối VND/USD vì khi đó các nhà xuất khẩu sẽ chuyển sang thu các loại ngoại tệ khác khi xuất hàng.Điều này lại dẫn đến sự mất cân bằng cung cầu ngoại tệ.
 Việc kết hối giữ tỷ giá VND/ngoại tệ thấp sẽ làm giới đầu cơ tích cực tích trữ ngoại tệ được kết hối dẫn tới cung cầu ngoại tệ mất cân bằng.
 Giao dịch qua NHTM gây cho các nhà xuất khẩu nhiều thiệt hại thì họ sẽ chọn các kênh phi ngân hàng để thực hiệ giao dịch như thị trường chợ đen, buôn lậu… dẫn đến không thể quan lý.

Vì những điểm tiêu cực như vậy cho nên trước khi tính đến biện pháp kết hối thì chúng ta nên xem xét cá biện pháp khác như sau để giảm căng thằng ngoại tệ :
-Điều chỉnh tỷ giá,tăng cung ngoại tệ bằng cách khuyến khích xuất khẩu, tăng xuất khẩu lao động, tăng nguồn kiều hối, giảm thủ tục hành chính, tăng lượng tiền mặt đem vào trong nước không phải khai báo, vấn đề sử dụng hiệu quả vốn ODA-FDI, giảm cầu ngoại tệ trong các hoạt động xa xỉ như mua sắm hàng không cần thiết.
-Quản lý hiệu quả thị trường tự do, quản lý hợp đồng kinh doanh ngoại tệ của các NHTM, các đại lý thu đổi tiền tệ.
-Xem xét lại các chính sách đã ban hành, chính sách bán dự trữ ngoại hối.

Link to full article

Hoa Anh Đào mãn khai và sự canh tân của nước Nhật

http://tuanvietnam.net/2010-03-09-ho...cua-nuoc-nhat-
Hoa Anh Đào mãn khai và sự canh tân của nước Nhật


Tác giả: NGUYỄN TRỌNG BÌNH (CALIFORNIA, USA)
Bài đã được xuất bản.: 11/03/2010 06:20 GMT+7



Hình ảnh hoa Anh đào mãn khai đã đi vào văn hoá Nhật! Tầng lớp Samurai (trong lịch sử Nhật, tiêu biểu cho tầng lớp trí thức) vẫn thường tự ví vai trò của mình như hoa Sakura, mãn khai trong mùa xuân, và họ đã làm nên vai trò lịch sử của họ từ thời kỳ Minh trị Duy Tân cho đến ngày nay.

Hoa Anh Đào mãn khai bốn mùa

Trong khung cảnh mùa xuân, một thông tin về thành tựu trong nghiên cứu về cây hoa Anh Đào (Sakura) của trung tâm nghiên cứu Riken, Nhật bản, làm những người yêu hoa anh Đào phải chú ý. Đó là tin trung tâm nghiên cứu này đã tạo ra được giống hoa Anh Đào nở cả bốn mùa. Nước Nhật vốn nổi tiếng là xứ hoa Anh Đào, dù cho hoa Anh Đào cho đến nay chỉ nở một mùa xuân.

Theo nghiên cứu thực vật thì cây Anh Đào cần phải có một thời gian lạnh rét tối thiểu 8,000 giờ của mùa Đông, để rồi hoa bừng nở rộ, mãn khai, khi xuân về với khí hậu ấm áp hơn.

Bấy lâu nay cảnh hoa Anh đào mãn khai đã đi vào văn hoá Nhật! Tầng lớp Samurai (trong lịch sử Nhật, tiêu biểu cho tầng lớp trí thức) vẫn thường tự ví vai trò của mình như hoa Sakura, mãn khai trong mùa xuân, và họ đã làm nên vai trò lịch sử của họ từ thời kỳ Minh trị Duy Tân cho đến ngày nay.



Đứng trước sự thay đổi nhanh chóng của nền kỹ nghệ Phương Tây, sau sự kiện mấy viên đạn đại bác của Perry nã vào cửa khẩu Hoành Tân (Yokohama), trước những lời đề nghị canh tân của tầng lớp trí thức Nhật Bản mà biểu tượng là tầng lớp Samurai đương thời, chính quyền phong kiến trung ương của nhà vua Nhật đã thức tỉnh và nước Nhật đã kịp canh tân, thoát được cơ chế lạc hậu của phong kiến châu Á, bắt đầu canh tân triệt để theo Âu Mỹ.

Từ đó từng đoàn du học sinh Nhật Bản đã được cử ra các nước Âu Mỹ du học và trở về tiếp sức cho sự cải cách, Âu hoá của Nhật đặt nền móng cho cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và từ đó phát triển bền vững, đưa nước Nhật từ một nước phong kiến lạc hậu như các nước Á châu khác (tương tự như đất nước chúng ta ngày ấy) trở thành một cường quốc như ngày hôm nay.

Nếu ai đã từng sống qua mùa hoa Anh Đào mãn khai ở Nhật sẽ thấy hoa nở rộ với ánh phớt hồng sáng rực trong nắng, đã tạo ra mùa xuân đặc thù ở Nhật Bản và sau đó là những trận mưa hoa, do những cánh hoa Sakura bay trong những cơn gió xuân thành cơn "mưa hoa" trong nắng, dĩ nhiên là mưa hoa này không hề có nước mưa.

Hoa Sakura nở rộ như một đóng góp của hoa Anh Ðào cho mùa xuân Nhật Bản mà không một đòi hỏi gì cả! Xuân đến là hoa Anh đào nở rộ, mãn khai! Tự nhiên vậy thôi.

Và những lớp trí thức nỗ lực canh tân

Ngày còn là nghiên cứu sinh tiến sỹ tại Nhật, khi nói chuyện ngoài lề, sau việc nghiên cứu, về văn hóa Nhật, thầy tôi thường kể cho nghe thêm những nét đặc sắc trong văn hoá Nhật và sự nhận lãnh trách nhiệm của người trí thức Nhật, xưa kia là giới Samurai, trong xã hội Nhật của thế hệ thầy tôi.

Tôi đã rất xúc động trước câu chuyện của thầy kể về Samurai từng ví mình như hoa Anh đào qua câu truyện thầy tôi kể về Hoa Anh Ðào nở rộ làm đẹp mùa xuân Nhật Bản và hoa đã nở là nở mãn khai cho mùa xuân, và tự nhiên như vậy thôi, không có một "yêu cầu, đòi hỏi" gì cả!

Có thể vì sự tương tác hài hòa giữa cơ chế lãnh đạo và tầng lớp trí thức Nhật Bản đã đưa nước này đạt được những thành qũa như ngày hôm nay.

Phải chăng lãnh đạo cơ chế của Nhật luôn có những thay đổi nhanh chóng kịp thời với thời cuộc đổi thay của tình hình quốc tế và quốc nội để có được hướng đúng đắn nhất cho phát triển đất nước? Phải chăng vì cơ chế quốc gia luôn nhận được sự đóng góp tích cực của tầng lớp trí thức Nhật? Phải chăng nhiệt tâm của tầng lớp trí thức Nhật là sự trở về canh tân của giới du học sinh Nhật đối với quê hương của họ?


Thực tế cho thấy trong số tất cả du học sinh quốc tế đến du học tại các nước Âu Mỹ, hầu hết các du học sinh Nhật Bản sau thời gian du học hoặc thực tập xong đều trở về đóng góp cho sự tiến bộ của quê hương họ. Tỷ lệ về nước của du học sinh Nhật từ trước đến nay bao giờ cũng là con số cao nhất.

Thầy tôi nay đã qua đời, ông là một người trong tầng lớp trí thức Nhật Bản sau thời Minh trị Duy Tân nhiều chục năm, khi Nhật Bản đang bắt đầu vươn lên từ nền móng công nghiệp vừa đạt được, ông được tham gia đóng góp khi nước Nhật đang trong giai đoạn Âu Mỹ hoá (triệt để).

Sự tương tác giữa mùa xuân và hoa Anh đào đã làm nên mùa xuân Nhật Bản thật kỳ diệu.

Khi mùa xuân đến, hoa Anh Đào nở rộ, nếu đang ở Nhật, bạn sẽ cảm thấy hoa Anh đào đã và đang "nở hết mình" để tạo ra mùa xuân Nhật bản, và mùa xuân ấy nổi tiếng khắp năm châu.

Trời không có xuân, Anh Đào không thể nở đẹp; không có Anh Đào nở mãn khai không thể làm thành mùa xuân của đất nước mặt trời mọc.

Khi nhận được tin hoa Sakura nở bốn mùa từ phòng nghiên cứu của Riken, Tokyo tôi vui vì đó là thành tựu của nghiên cứu, vì có thể sẽ biến đất nước xứ hoa anh đào thành đất nước "bốn mùa là xuân hoa nở". Nhưng cũng không khỏi có vài ý nghĩ trăn trở tự hỏi thoáng qua, liệu sau này còn ai nhớ và nhắc đến các câu truyện lãng mạng về tầng lớp trí thức Nhật đã từng như hoa anh đào nở rộ trong mùa xuân của nước Nhật không? Hoặc làm sao Anh Ðào nở rộ khi xuân về?

Tôi tự xoá ngay đi trăn trở này khi kinh nghiệm đã qua cho thấy rằng người Nhật tuy đã Âu Mỹ hoá triệt để nhưng vẫn giữ được cốt tủy và bề sâu, dày của truyền thống văn hoá Nhật để thành lời ca "Mùa xuân sang có hoa Anh Đào".

Sự thành công của khoa học, Nhật Bản tạo ra giống Anh đào mới có lẽ sẽ làm cho mùa xuân của Nhật Bản dài hơn. Công cuộc cải cách tại Nhật từ Minh trị đến nay cho thấy tầng lớp lãnh đạo chính trị và tầng lớp trí thức luôn đặt quốc gia và cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lên hàng đầu.

Trời xuân, nhìn sắc hoa Anh Đào Nhật Bản không khỏi làm tôi rung động nghĩ tới một mùa xuân nơi quê cha đất tổ.

Link to full article

Tập đoàn: Ý nghĩa kinh tế và nguy hiểm trước mắt

Tập đoàn: Ý nghĩa kinh tế và nguy hiểm trước mắt


VŨ QUANG VIỆT

bài viết này nhằm trình bày quan niệm và thực tế về công ty (trong đó có tập đoàn nếu nó là công ty có tư cách pháp nhân) và sự kiểm soát về mặt luật pháp mà các nước phát triển đang thực hiện. Bài viết cũng bàn thêm về những điều cần tăng cường kiểm soát ở Việt Nam nhằm bảo đảm sự phát triển ổn định của nền kinh tế.

Tập đoàn là gì?

Trước tiên cần định nghĩa tập đoàn kinh tế là gì. Trong tiếng Anh có hai từ: conglomerate và holding company. Đồng thời phải kể thêm hai từ xuất phát từ châu Á: keiretsu của Nhật Bản và chaebol của Hàn Quốc.

Từ tiếng Anh, conglomerate thường được định nghĩa là một công ty lớn, có sở hữu cổ phần ở nhiều công ty khác hoạt động trong các ngành nghề gần như không liên hệ gì với nhau. Từ này mang ý nghĩa tập đoàn được hiểu hiện nay ở Việt Nam. Thí dụ Công ty FPT doanh thu chủ yếu từ bán điện thoại di động, và sau này vì một lý do nào đó lại là một trong ba công ty được hưởng quyền sử dụng sóng, do đó có thể mở dịch vụ điện thoại di động và cung cấp dịch vụ Internet. FPT hiện nay lại được phép mở trường Đại học FPT, Ngân hàng FPT (Tiên Phong), Công ty Chứng khoán FPT…

Điểm căn bản đưa đến việc thành lập tập đoàn là nó cho phép một công ty đang tạo ra nhiều lợi nhuận, nhưng lại không thể phát triển mạnh thêm vì thị trường bão hòa, hướng vào ngành sản xuất mới có khả năng phát triển mạnh hơn trong tương lai.

Điều này quan trọng khi công nghệ thay đổi nhanh, việc đầu tư vào công nghệ mới là nhằm tránh cho công ty rơi vào lạc hậu trong tương lai. Thí dụ công ty làm phần mềm Microsoft kiếm cách mua Công ty Yahoo! (công cụ tìm kiếm trên mạng) vì sợ rằng phần mềm độc lập như hiện nay sẽ mất chỗ đứng trong tương lai.

Tập đoàn thường mang cùng tên để tạo ảnh hưởng tiếp thị trên thị trường. Tuy nhiên mặt trái của tập đoàn là khi bành trướng rộng vào nhiều ngành nghề khác nhau, quản lý ở cấp cao của tập đoàn mất dần khả năng nắm bắt chuyên ngành sâu, tập đoàn dễ mất phương hướng, không còn mục tiêu rõ ràng và dễ mất khả năng cạnh tranh. Và khi một phần sụp đổ, nó có thể kéo theo sự sụp đổ của cả tập đoàn. Điều này dễ xảy ra trong thời hiện đại khi các tập đoàn tham gia vào và tạo ra các loại buôn bán tài chính phiêu lưu, không thể kiểm soát được như đang xảy ra hiện nay trên thế giới (điều này sẽ nói thêm sau).

Từ holding company (công ty mẹ) cũng rất thông dụng trên thế giới. Holding company là công ty sở hữu toàn diện, đa số, hay một phần cổ phiếu của một hay nhiều công ty con khác. Thường được gọi là công ty mẹ (parent company) vì công ty này luôn nhằm sở hữu đủ số cố phiếu, với mục đích có ảnh hưởng quyết định đối với công ty con (subsidiary) như quyết định người lãnh đạo và mục tiêu phát triển.

Sự khác nhau giữa các nước

Nếu xét trên mặt định nghĩa, tập đoàn và công ty mẹ/con không khác nhau. Nhưng qua thực tế, ta thấy công ty mẹ/con, khác với tập đoàn ở hai điểm.

Thứ nhất, công ty mẹ/con thường hoạt động trong cùng một ngành nghề, thí dụ như công ty mẹ làm sản phẩm cuối cùng thì công ty con cung ứng vật tư và các dịch vụ cần thiết.

Thứ hai, công ty mẹ có ảnh hưởng trực tiếp và quyết định đến mục tiêu kinh doanh và bộ phận quản lý công ty con. Dù thế nào, không có luật pháp nào phân biệt giữa loại hình công ty mẹ/con và tập đoàn.

Chaebol ở Hàn Quốc và keiretsu ở Nhật cũng là những loại hình thức tập đoàn nhưng lại không giống nhau. Chaebol của Hàn Quốc thường mang hình thức của một công ty mẹ, và có nhiều công ty con hoạt động để đáp ứng yêu cầu vật tư và dịch vụ của công ty mẹ. Chaebol cũng thường thuộc sở hữu và do đó đặt dưới quyền quản lý của một gia đình. Về mặt quản lý, keiretsu ở Nhật khá giống tập đoàn (conglomerate) ở Mỹ, là do những người chuyên nghiệp làm thuê quản lý, nhưng về mặt sở hữu chúng là công ty có tư cách pháp nhân độc lập, nhưng hoạt động mang tính liên hệ nối kết lâu dài, giúp đỡ lẫn nhau, dựa vào chữ tín, được cung cấp hàng hóa, tín dụng lâu dài mà không cần phải trả ngay.

Tập đoàn và các quy định pháp lý

Dù khác nhau, cả hai loại chaebol hay keiretsu đều bị cấm sở hữu ngân hàng vì ở Hàn Quốc, chính phủ muốn kiểm soát những công ty này qua việc kiểm soát tín dụng. Còn ở Nhật, keiretsu không được làm chủ ngân hàng nhưng thường hoạt động rất chặt chẽ với ngân hàng và thường được ngân hàng đáp ứng tín dụng rất dễ dàng, ít nhất là cho đến cuộc khủng hoảng kéo dài hơn 10 năm ở Nhật và chỉ chấm dứt khoảng năm 2000.

Hạn chế công ty phi tài chính sở hữu ngân hàngNói chung về mặt pháp lý, các nước thường hạn chế sự tham gia vào hoạt động tài chính, ngân hàng của các công ty phi tài chính (như sản xuất xe hơi, phần mềm) hoặc quỹ đầu tư, bảo đảm rằng không có sự liên hệ mẹ/con giữa công ty phi tài chính và ngân hàng.

Theo luật ngân hàng Mỹ (Bank Holding Company Act hay Savings and Loan Holding Company Act) một công ty được coi là công ty mẹ của ngân hàng nếu nó: i) hoặc trực tiếp hay gián tiếp kiểm soát được số cổ phiếu ở mức quyết định ở ngân hàng (sở hữu 10% số cổ phiếu hay hơn thường được coi là thước đo quyền làm chủ), hoặc ii) có khả năng ảnh hưởng đến việc tuyển chọn đa số thành viên hội đồng quản trị, hoặc iii) có ảnh hưởng đến quyền quản lý hay chính sách của ngân hàng.

Từ định nghĩa quyền kiểm soát (hay làm mẹ trên) mà các công ty mẹ và con đều phải đặt dưới sự giám sát chặt chẽ của cơ quan giám sát tài chính như FED của Mỹ, đặc biệt liên quan đến tỷ lệ tín dụng ngân hàng cấp cho công ty mẹ/con.

Luật Canada hạn chế sở hữu ngân hàng của bất cứ sở hữu chủ không phải công ty tài chính nào ở mức 10%. Ở Mỹ, tỷ lệ hạn chế là 25% nhưng nếu là 10% trở lên phải xin phép cơ quan kiểm soát và phải chứng tỏ rằng nó không có sự liên hệ mẹ/con theo định nghĩa ở trên.

Yêu cầu kiểm soát chặt chẽ tính mẹ/con giữa công ty tài chính và phi tài chính là dễ hiểu vì hoạt động ngân hàng, tài chính có nhiều rủi ro; việc mất niềm tin của khách hàng có thể tạo ra sự sụp đổ dây chuyền của cả hệ thống và do đó ảnh hưởng lớn đến toàn bộ nền kinh tế. Để giảm độ rủi ro, tín dụng ngân hàng do đó bị pháp luật nhiều nước đòi hỏi phải đa dạng cho nhiều khách hàng khác nhau, và hoạt động ở nhiều lĩnh vực khác nhau, chứ không chỉ phục vụ một thiểu số khách hàng, nhất là những là khách hàng làm chủ cổ phần đáng kể trong ngân hàng.

Không chỉ tín dụng ngân hàng, ngày nay các hoạt động tài chính mang tính tín dụng (do những công cụ tài chính mới ra đời) nhưng lại không phải ngân hàng, vì không bị kiểm soát, đã là nguyên nhân tạo ra cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay ở Mỹ và do đó có thể bị đặt vào vòng kiểm soát trong tương lai.

Thuế và công ty mẹ con

Ở mức độ nhất định, chính sách thuế sẽ giúp làm lộ rõ sự liên hệ công ty mẹ con. Thí dụ, nếu công ty A làm ra lợi nhuận. Công ty A sẽ bị đánh thuế lợi nhuận. Không những thế, phần lợi nhuận đem phân phối thành cổ tức cho cổ đông lại bị đánh thuế một lần nữa theo thuế thu nhập cá nhân hoặc thu nhập công ty, tùy theo ai là chủ sở hữu cổ phần.

Cổ tức mà một công ty B nào đó nhận được khi phân cho cổ đông thì họ lại bị đánh thuế một lần nữa. Tức là lợi nhuận có thể bị đánh thuế tới ba lần hay nhiều hơn. Luật pháp như ở Mỹ chẳng hạn sẽ miễn trừ thuế thu nhập công ty (trả từ A tới B), tùy theo tỷ lệ sở hữu giữa A và B.

Nếu là liên hệ mẹ/con, mà công ty mẹ chẳng hạn nắm 80% cổ phần của công ty con, thì việc trả cổ tức từ công ty con cho công ty mẹ sẽ được miễn trừ thuế thu nhập. Tỷ lệ miễn trừ sẽ là không, nếu tỷ lệ sở hữu dưới 20%. Như thế luật thuế trên khuyến khích phát triển đầu tư ra công ty con, nhưng không khuyến khích đầu tư lợi nhuận vào chứng khoán để trốn thuế.

Tập đoàn và các thủ thuật tài chính mới: mối đe dọa hiện nay ở Mỹ

Sự tránh né ghi nợ trong kết toán tài sản là thủ thuật làm đẹp bản báo cáo tài chính của rất nhiều công ty hiện nay ở Mỹ.

Họ làm thế nào? Đơn giản thôi, họ lập ra các công ty tài chính (gọi trong giới chuyên môn là các cỗ xe đặc biệt – special vehicles) thường là ở nước ngoài, ở những khu vực tự do, không bị chính quyền kiểm soát chặt chẽ. Chính các công ty con này đi vay dưới sự bảo trợ của công ty mẹ, vốn vay này sẽ phục vụ hoạt động của công ty mẹ, nhưng điều quan trọng là phần vay này sẽ không ghi vào sổ nợ của công ty mẹ.

Giới kinh doanh khó nhận ra điều này, nếu luật không đòi hỏi minh bạch hóa các bảo trợ tài chính. Điều này đã được Công ty Enron thực hiện và đã trở thành công ty hàng đầu, gây chấn động nước Mỹ khi phá sản vì mất khả năng thanh toán. Tất nhiên Công ty Enron còn làm nhiều thủ thuật khác như mua hàng của công ty con (thật ra chỉ là ghi giả), bán hàng theo hợp đồng tương lai nhưng lại ghi là doanh thu trong hiện tại, với chi phí trong hiện tại nhằm tăng lợi nhuận giả, kích động tăng giá cổ phiếu của mình.

Vấn đề mua bán khống giấy nợ mua nhà trên thị trường hiện nay ở Mỹ và trên thế giới hiện vẫn đang còn đe dọa sự tồn tại của các đại gia tài chính năng động nhưng lại ít chịu sự kiểm tra nghiêm túc nào.

Tập đoàn và kinh tế Việt Nam

Những vấn đề trên dường như cũng không có gì xa lại đối với kinh tế Việt Nam và trở nên rất nguy hiểm khi luật pháp của ta hiện nay gần như chưa có gì để kiểm soát các hoạt động của tập đoàn. Ở đây cần nói rõ thêm là hầu hết các tập đoàn lớn ở ta đều là tập đoàn nhà nước, thường là độc quyền, được ưu đãi và có khả năng lũng đoạn thị trường rất lớn.

Mục đích của nó, theo sự mong muốn của chính quyền, là tạo ra quả đấm đẩy mạnh phát triển nền kinh tế, nhưng mục đích của chính lãnh đạo công ty thì có thể không phải thế, mà là lợi ích cá nhân.

Luật Doanh nghiệp (2005) có hiệu lực từ ngày 1-7-2006 có một điều duy nhất nói rất sơ lược và mơ hồ về tập đoàn kinh tế trong điều 149: “Tập đoàn kinh tế là nhóm công ty có quy mô lớn. Chính phủ quy định, hướng dẫn tiêu chí, tổ chức quản lý và hoạt động của tập đoàn kinh tế”.

Nếu thế thì liệu cần có một luật dành cho tập đoàn hay không? Điều này thật ra không cần thiết, bởi vì công ty là công ty và cần được đối xử ngang hàng trước pháp luật. Hơn nữa, việc định nghĩa ai là tập đoàn cũng không dễ dàng.

Tuy nhiên, điều quan trọng đầu tiên cần thực hiện là tăng cường luật pháp và các quy chế kiểm soát sự lấn sân của công ty phi tài chính vào các hoạt động tài chính. Việc cho phép FPT, EVN…thành lập ngân hàng là điều không thể chấp nhận được.

Cần tăng cường luật pháp và các quy chế kiểm soát sự lấn sân của công ty phi tài chính vào các hoạt động tài chính nhằm giảm thiểu khả năng xảy ra các cuộc khủng hoảng tài chính trong tương lai.

Thực tế hiện nay là dù có luật, các cơ quan hữu quan gần như lơ là không thực hiện sự kiểm soát theo luật hoặc không đủ khả năng chuyên môn để kiểm soát hầu hết mọi hoạt động của công ty, cho nên cần siết chặt khả năng đầu tư của các công ty phi tài chính vào hoạt động tài chính và chỉ mở rộng khi điều kiện cho phép; mục đích là giảm thiểu khả năng xảy ra các cuộc khủng hoảng tài chính trong tương lai.

Điểm quan trọng thứ hai cần làm là quy định rạch ròi về nợ của công ty nhà nước. Nợ của công ty nhà nước phải vừa được ghi là nợ của công ty, vừa được ghi là nợ của Nhà nước (tức là công ty nợ ngân sách, ngân sách nợ người cho vay), nếu như Nhà nước phải có trách nhiệm trả nợ khi công ty phá sản. Tài khoản quốc gia của Liên hiệp quốc cũng đã quy định điều này, dù mục đích là nhằm phân tích kinh tế.

Chuyện tránh ghi nợ này thực tế đã xảy ra khi Vinashin cho rằng gần 2 tỉ đô la Mỹ nợ mà Nhà nước vay cho họ là nợ của Nhà nước chứ không phải nợ của công ty và do đó Nhà nước phải có trách nhiệm chi trả. Hình như họ cho rằng Nhà nước sẽ có sở hữu (equity) lớn hơn đối với công ty qua số nợ này, và như thế báo cáo tài chính của công ty sẽ rất đẹp vì công ty không có nợ. Thủ thuật này không thể chấp nhận được.

Điểm thứ ba là cần kiểm soát chặt chẽ sự bành trướng các công ty con của tập đoàn quốc doanh, chừng nào mà việc mở rộng công ty con tùy thuộc rất nhiều vào việc được chính quyền cấp đất với giá rẻ và sau đó công ty con cũng nhanh chóng trở thành “doanh nghiệp lớn” vì có quyền sử dụng đất.

Có lẽ đã đến lúc cần giải quyết đúng đắn vấn đề cấp đất cho công ty và phải ghi đúng đắn theo giá thị trường tài sản này trong bảng kết toán tài sản. Có hai cách giải quyết. Đất có thể coi là nợ của công ty đối với Nhà nước. Giá trị số nợ này sẽ được điều chỉnh theo giá thị trường (lấy giá trung bình năm năm chẳng hạn) và công ty phải trả lãi cho Nhà nước theo lãi suất nhất định.

Cách thứ hai là coi đất là do Nhà nước cho thuê và tiền thuê phải được điều chỉnh tùy theo giá thị trường. Đất không thể coi là sở hữu của công ty, kể cả quyền sử dụng đất.

Có thể nói quá trình tạo ra các “doanh nhân lớn” hiện nay ở ta đều dựa vào bốn quá trình thiếu minh bạch: i) quá trình được giao đất của dân hoặc được giao tài sản thiên nhiên (như sử dụng phát sóng) cho công ty tư hoặc công với giá rẻ; ii) quá trình trao cho độc quyền kinh doanh mà không phải trả giá (thí dụ cho VNPT, Viettel, FPT quyền dùng sóng điện thoại di động và cung cấp dịch vụ Internet); iii) thiết lập các công ty tư là con của các công ty mẹ quốc doanh, cũng với quyền sử dụng đất; iv) chia phần trăm các công trình đầu tư.

Tất cả đều cho thấy càng đầu tư mạnh vào các tập đoàn nhà nước càng tạo cơ hội làm giàu cho một thiểu số. Việc kiểm soát sự bành trướng của công ty nhà nước thành các tập đoàn với nhiều công ty con là điều hiển nhiên. Và như đã nói ở trên, khi báo cáo tài chính và quy luật báo cáo không minh bạch thì việc dùng thủ thuật để tăng hay giảm lợi nhuận là điều đương nhiên xảy ra. VŨ QUANG VIỆT

bài viết này nhằm trình bày quan niệm và thực tế về công ty (trong đó có tập đoàn nếu nó là công ty có tư cách pháp nhân) và sự kiểm soát về mặt luật pháp mà các nước phát triển đang thực hiện. Bài viết cũng bàn thêm về những điều cần tăng cường kiểm soát ở Việt Nam nhằm bảo đảm sự phát triển ổn định của nền kinh tế.

Tập đoàn là gì?

Trước tiên cần định nghĩa tập đoàn kinh tế là gì. Trong tiếng Anh có hai từ: conglomerate và holding company. Đồng thời phải kể thêm hai từ xuất phát từ châu Á: keiretsu của Nhật Bản và chaebol của Hàn Quốc.

Từ tiếng Anh, conglomerate thường được định nghĩa là một công ty lớn, có sở hữu cổ phần ở nhiều công ty khác hoạt động trong các ngành nghề gần như không liên hệ gì với nhau. Từ này mang ý nghĩa tập đoàn được hiểu hiện nay ở Việt Nam. Thí dụ Công ty FPT doanh thu chủ yếu từ bán điện thoại di động, và sau này vì một lý do nào đó lại là một trong ba công ty được hưởng quyền sử dụng sóng, do đó có thể mở dịch vụ điện thoại di động và cung cấp dịch vụ Internet. FPT hiện nay lại được phép mở trường Đại học FPT, Ngân hàng FPT (Tiên Phong), Công ty Chứng khoán FPT…

Điểm căn bản đưa đến việc thành lập tập đoàn là nó cho phép một công ty đang tạo ra nhiều lợi nhuận, nhưng lại không thể phát triển mạnh thêm vì thị trường bão hòa, hướng vào ngành sản xuất mới có khả năng phát triển mạnh hơn trong tương lai.

Link to full article

Hiểu biết về tư duy phản biện

Hiểu biết về tư duy phản biện

Thứ Ba, 15-06-2010 CHER


ThS. Lê Tấn Huỳnh Cẩm Giang

Viện Nghiên cứu Giáo dục


“Critical thinking” được chúng tôi tạm dịch là “tư duy phản biện”. Đây là một nội dung có trong tiêu chuẩn đầu ra của nhiều trường đại học, đặc biệt là các học viện kỹ thuật có thực hiện xây dựng và quản lý chương trình đào tạo theo phương thức tiếp cận CDIO. Bài viết này tổng hợp và dịch thuật một số tài liệu để giới thiệu về khái niệm này.
Thuật ngữ “critical thinking” thường được dịch là “tư duy phê phán”. “Phê phán” là từ chỉ hành động chỉ ra cái chưa tốt, cái sai lầm, từ này không bao hàm ý nghĩa “đánh giá”. Đánh giá là phải nhìn nhận cả các giá trị, các kết quả đạt được bên cạnh những thiếu sót và tồn tại. “Quan điểm phê phán” vốn được hiểu là đứng trên lập trường của một hệ phái và phủ định các lý thuyết khác biệt với tư tưởng chính thống, không chấp nhận khả năng tiếp cận vấn đề từ nhiều phương diện khác nhau. Thuật ngữ “critical thinking” trong các tài liệu mà chúng tôi tham khảo có nội hàm rộng hơn cách hiểu “phê phán” theo ý nghĩa nêu trên, do đó cần phải tìm một cách dịch khác.
Theo tự điển Oxford Advanced Learn’s Dictionary thì “critical” là tính từ dùng để diễn tả:
- nghĩ là không tốt, chê bai, bất đồng, không tán thành, phản đối
- cực kỳ quan trọng, sẽ có nhiều ảnh hưởng trong tương lai
- nghiêm trọng, nguy hiểm
- đưa ra phán đoán cẩn thận, công bằng về chất lượng tốt hay kém (involving making fair, careful judgements about the good and bad qualities of somebody or something).
Với ý nghĩa này ví dụ được nêu ra như sau: “Sinh viên được khuyến khích phát triển tư duy phản biện thay vì chỉ chấp nhận các quan điểm mà không xem xét” (Students are encouraged to develop critical thinking instead of accepting opinions without questioning them).
- phê bình (nghệ thuật, âm nhạc, văn học)
Qua tham khảo cách giải thích của từ điển Oxford đã dẫn, chúng tôi cho rằng từ “critical” trong thuật ngữ “critical thinking” không được dùng với ý nghĩa phê phán, mà mang ý nghĩa đưa ra phán đoán. Chúng tôi sử dụng cách dịch khác là “tư duy phản biện” để phù hợp hơn với nội dung vấn đề được đề cập.
1. Tư duy phản biện là gì?

Chúng tôi mở đầu bài lược khảo này bằng đoạn trích từ tài liệu của Alec Fisher. A. Fisher (2001) đã điểm lại những phát biểu định nghĩa về tư duy phản biện của nhiều tác giả, đồng thời phân tích các định nghĩa này để cho thấy nhận thức về tư duy phản biện đã qua một chặng đường phát triển lịch sử khá lâu dài, khởi đầu từ sự tiếp cận của triết gia cổ đại Socrates, và quan điểm cuối cùng được đề cấp là của Michael Scriven.
Mặc dù Socrates đã tiếp cận vấn đề tư duy phản biện từ cách đây hơn 2000 năm, nhưng định nghĩa của John Dewey - nhà triết học, tâm lý học, giáo dục học người Mỹ - về tư duy phản biện mới được biết đến một cách rộng rãi. J. Dewey gọi tư duy phản biện là “reflective thinking” (suy nghĩ sâu sắc) và định nghĩa là:
“sự suy xét chủ động, liên tục, cẩn trọng về một niềm tin, một giả định
khoa học có xét đến những lý lẽ bảo vệnó và những kết luận xa hơn được nhắm đến”
Định nghĩa của John Dewey nhấn mạnh đến tính chủ động của tư duy phản biện. Khi một người tư duy phản biện, họ tự nảy ra câu hỏi, tự đi tìm các thông tin liên quan, .., hơn là học hỏi thụ động từ người khác. J. Dewey cũng nhấn mạnh đến tính liên tục của tư duy phản biện. Tư duy phản biện đòi hỏi phải xem xét mọi vấn đề, mọi thông tin liên quan trước khi đi đến kết luận hoặc ra quyết định. Quan trọng nhất, định nghĩa của J. Dewey nói rằng niềm tin của chúng ta bị chi phối bởi sự suy luận. Suy luận có vai trò quan trọng to lớn trong tư duy phản biện, cả suy luận và đánh giá suy luận đều có ý nghĩa tích cực. Trong tư duy phản biện, khả năng suy luận là yếu tố then chốt.
Edward Glaser, đồng tác giả của một trắc nghiệm tư duy phản biện được sử dụng rộng rãi nhất thế giới là Watson-Glaser CriticalThinking Appraisal phát biểu về tư duy phản biện như sau:
“(1) là thái độ sẵn lòng quan tâm suy nghĩ chu đáo về những vấn đề và chủ đề xuất hiện trong cuộc sống cá nhân;
(2) là sự hiểu biết về phương pháp điều tra và suy luận có lý; và (3) là một số kỹ năng trong việc áp dụng các phương pháp đó.Tư duy phản biệnđòi hỏi sự nỗ lực bền bỉ để khảo sát niềm tin hay giả thuyết bất kỳ có xem xét đếncác bằng chứng khẳng định nó và những kết luận xa hơn được nhắm đến”.
Ý tưởng của E. Glaser rất giống với ý tưởng của J. Dewey. E. Glaser đề cập đến các “bằng chứng” thay cho các “ý tưởng” trong một câu tương tự như phát biểu của J. Dewey. E. Glaser nhìn nhận rằng kỹ năng tư duy là một thành phần tất yếu của tư duy phản biện.
Một người rất nổi tiếng trong nghiên cứu về tư duy phản biện là Robert Ennis. Alec Fisher cho rằng định nghĩa của R. Ennis về tư duy phản biện đã được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực:
“Tư duy phản biện là sự suy nghĩ sâu sắc, nhạy cảm, thực tế và hữu ích để quyết định niềm tin hay hành động”.

Các tác giả trước đó đã đề cập đến “sự suy nghĩ sâu sắc”, nhưng chính R. Ennis đã nhấn mạnh “để quyết định hành động”. Do đó, ra quyết định là một yếu tố của tư duy phản biện theo định nghĩa của R. Ennis.
Richard Paul phát biểu về tư duy phản biện từ một góc nhìn khác biệt so với các tác giả trước ông:
“Tư duy phản biện là một mô hình tư duy - về một chủ đề, một vấn đề, một nội dung bất kỳ - trong đó chủ thể tư duy cải tiến chất lượng tư duy của mình bằng việc điều khiển một cách thành thạo các cấu trúc nền tảng có sẵn của tư duy và áp đặt các tiêu chuẩn của hành động trí tuệ lên quá trình tư duy của mình”.

Phát biểu này thú vị bởi nó lôi cuốn người ta quan tâm đến một đặc điểm của tư duy phản biện được các nhà giáo dục và các nhà nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực đồng ý rộng rãi, đó là: Cách thức có ý nghĩa thực tế duy nhất để phát triển khả năng tư duy phản biện của một ai đó là thông qua “tư duy về tư duy của chính họ” (thường được gọi là “siêu nhận thức” (metacognition), với mục tiêu được quan tâm là cải tiến nó bằng cách tham khảo một số mô hình tư duy thành công trong cùng lĩnh vực.
Michael Scriven thì cho rằng tư duy phản biện là “một năng lực học vấn cơ bản, tương tự như là đọc và viết vậy”, và phát biểu như sau:
“Tư duy phản biện là khả năng, hành động để thấu hiểu và đánh giá được những dữ liệu thu thập được thông qua quan sát, giao tiếp, truyền thông, và tranh luận”

Hành động phân tích để thấu hiểu và diễn đạt lại nội dung đã tiếp thu bằng ngôn ngữ của mình hoặc bằng một hình thức khác (viết, vẽ, làm film ảnh, ngôn ngữ cơ thể), và hành động đánh giá (ước đoán giá trị, khả năng, độ tin cậy của các tuyên bố) là những hành động được xem là đòi hỏi phải sử dụng các kỹ năng tư duy phản biện. Tư duy phản biện cần được hiểu là một loại tư duy để đánh giá, nó bao gồm sự phê phán và cả tư duy sáng tạo. Để hiểu tốt một vấn đề mà chỉ phát hiện lỗi trong ý tưởng và lập luận của người khác là chưa đủ. Điều quan trọng là những kết luận thận trọng chỉ đưa ra khi được xây dựng trên cơ sở các luận cứ vững chắc. Vì thế, cần phải thường xuyên suy nghĩ về mọi yếu tố có liên quan, tìm kiếm thêm những thông tin mới, chứ không chỉ là những gì đã được phơi bày. Hơn nữa, còn phải xem xét vấn đề ở nhiều khía cạnh khác nhau, phải tiên đoán những khả năng có thể xảy ra trong tương lai, điều đó cũng có nghĩa là cần phải có khả năng tư duy sáng tạo.
Tác giả tiếp theo mà chúng tôi muốn giới thiệu là Mathew Lipman. M Lipman (2003) có một hành độngtóm lược một cách vắn tắt một số phát biểu của các tác giả khác về tư duy phản biện như sau:
-
Tư duy để giải quyết vấn đề và ra quyết định (Sternberg)
- Tư duy nỗ lực để đưa ra một phán đoán sau khi đã tìm cách thức đáng tin cậy để đánh giá thực chất về mọi phương diện của các bằng chứng và các luận cứ (Hatcher)

- Là khả năng của người tư duy phát triển các tiêu chuẩn năng lực hoạt động trí tuệ và vận dụng vào quá trình tư duy của chính họ (Paul)

- Sự nỗ lực tìm kiếm một cách có hệ thống những nguyên nhân và lý lẽ giải thích những điều mà có thể đã được người khác cho là đúng

- Là loại tư duy
bảo vệ chúng ta khôngbị người khác lừa phỉnh và không tự lừa phỉnh chính mình (Paul)
- Là sự đánh giá đúng các phát biểu (Ennis)

- Là sự vận dụng các lý thuyết về tư duy vào thực tiễn và
các tình huống có vấn đề
- Hiểu được nguyên nhân và tiến trình của các sự kiện

-

Link to full article

Nhà kinh tế học Paul A. Samuelson

Nhà kinh tế học Paul A. Samuelson

Vietsciences-


Paul A. Samuelson (15/05/1915-13/12/2009)



Paul Anthony Samuelson, người Mỹ đầu tiên đoạt giải Nobel kinh tế và là nhà kinh tế học lỗi lạc nhất của thế kỷ 20, vừa qua đời tại nhà riêng ở Belmont, Massachusetts hôm chủ nhật ở tuổi 94. Thông tin về cái chết của ông lần đầu được phát đi từ Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT), nơi nhờ có ông đã trở thành trung tâm hàng đầu thế giới trong lĩnh vực đào tạo đại học về kinh tế.
Sinh ngày 15/5/1915 trong một gia đình Ba Lan di cư, Samuelson sớm bộc lộ những phẩm chất thiên tài từ khi còn rất trẻ. 16 tuổi, ông đã vào đại học Chicago và bắt đầu nghiên cứu về thị trường chứng khoán. 4 năm sau, ông theo học ở Harvard và chỉ cần một năm để lấy được bằng thạc sĩ trước khi lấy nốt bằng tiến sĩ 5 năm sau đó.
Khi mới 22 tuổi, Samuelson đã trở nên nổi tiếng trên toàn quốc gia với bản luận văn táo bạo sau này trở thành một cuốn sách về kinh tế bán rất chạy. Cũng nhờ nó Samuelson đã được trao giải Nobel về kinh tế. Năm 25 tuổi, Samuelson được Học viện Công nghệ Massachussetts (MIT) mời về làm trợ giảng. 32 tuổi, ông chính thức trở thành giáo sư kinh tế ở học viện này.Và từ đó, ông bắt đầu đưa ra những phát kiến làm thay đổi hoàn toàn cách tư duy về kinh tế học.

Những tác phẩm bất hủ

Samuelson được thừa nhận là người đã biến môn kinh tế học từ chỗ chỉ là sự "nhai đi nhai lại" của các vấn đề kinh tế tới chỗ là môn học có thể giải quyết các vấn đề, trả lời những câu hỏi về nguyên nhân và hệ quả một cách chính xác và rõ ràng về mặt toán học. Nhờ có ông, MIT đã thu hút được hàng loạt những chuyên gia hàng đầu về kinh tế tới dạy và học. Nhiều người trong số đó sau này đã đoạt giải Nobel kinh tế như Robert M. Sollow, George A. Akerlof, Robert F. Engle III, Lawrence R. Klein, Paul Krugman, Franco Modigliani, Robert C. Merton và Joseph E. Stiglitz.
Nói về ông, Solow cho rằng khi những nhà kinh tế học "ngồi xuống để tính toán hay phân tích cái gì đó, không ai mang tới cho họ nhiều công cụ và ý tưởng để khai thác hơn Samuelson".
Samuelson chính là tác giả của một trong những cuốn sách giáo khoa được sử dụng nhiều nhất trong lịch sử giáo dục Mỹ. Được xuất bản lần đầu năm 1948, cuốn "Kinh tế học" đã liên tục giữ được vị thế cuốn sách bán chạy nhất trong năm của Mỹ trong gần 30 năm. Nó đã được dịch sang 20 ngôn ngữ, và trong vòng 50 năm kể từ lần xuất bản đầu tiên, trung bình mỗi năm người ta bán được khoảng 50.000 bản của cuốn sách này. Sách cũng đã dược dịch sang tiếng Việt và tái bản vài lần.
Ngoài ra, Samuelson còn là tác giả của một cuốn sách có ảnh hưởng lớn không kém khác là cuốn "Nền móng của phân tích kinh tế". Nếu cuốn "Kinh tế học" dạy sinh viên cách tư duy về các vấn đề kinh thế, thì cuốn "Cơ sở phân tích kinh tế", vốn dựa trên luận] án tiến sĩ của Samuelson, lại là cẩm nang hành nghề của những nhà kinh tế chuyên nghiệp.
Cuốn "Kinh tế học" đã giúp cho nhiều thế hệ sinh viên tiếp cận được với những ý tưởng mang tính cách mạng của nhà kinh tế người Anh John Maynard Keynes. Đây là người trong những năm 1930 đã phát triển một học thuyết trong đó cho rằng các nền kinh tế thị trường hiện đại khó tránh khỏi bị cuốn vào khủng hoảng và tới lúc đó, để khôi phục chúng, sẽ cần tới những lực đẩy mạnh như chi tiêu chính phủ, cắt giảm thuế, bên cạnh một chính sách tiền tệ mềm mỏng. Học thuyết này phủ nhận hoàn toàn một cách nhìn phổ biến trong thế kỷ 19, rằng các thị trường tư nhân có thể giải quyết được vấn đề thất nghiệp mà không cần sự can thiệp từ chính phủ.
Nhờ thấm nhuần học thuyết Kenyes qua những bài giảng của Samuelson và học trò của ông, hầu hết các nước công nghiệp hóa đều có những bước đi đúng đắn trong việc ngăn chặn đà suy thoái khi cuộc khủng hoảng kinh tế tồi tệ nhất từ sau thời kỳ Đại suy thoái nổ ra vào năm 2008. Thay vì cố gắng cân đối ngân sách và xóa bỏ các rào cản thương mại, họ tăng các khoản chi chính phủ, cắt giảm thuế, giữ cho xuất khẩu và nhập khẩu thông suốt và giảm lãi suất ngắn hạn xuống gần mức bằng 0.
Những bài học cho Kennedy

Sinh thời, Samuelson đã diễn giải học thuyết Keynes cho nhiều đời tổng thống Mỹ, nguyên thủ các quốc gia, các nghị sĩ, thành viên Cục dự trữ liên bang, và tất nhiên là nhiều nhà kinh tế học khác nữa. Ông còn là cố vấn của Bộ Tài chính Mỹ, Cục Ngân sách và Ủy ban tư vấn kinh tế của Tổng thống.
Sinh viên nổi tiếng nhất của Samuelson chính là Cố tổng thống Mỹ John F. Kennedy, với buổi học kéo dài 40 phút đầu tiên được tổ chức trên một bãi đá cạnh bờ biển gần nhà ông ở Hyannis Port, Massachusetts. Là một thành viên trong Ủy ban tranh cử của Kennedy, Samuelson đã có nhiều buổi nói chuyện riêng với Kennedy về các vấn đề kinh tế, và sau này, đa phần trong số đó có tác động lên những quyết định của vị Tổng thống này.
Năm 1960, chính Samuelson là người đã báo với Kennedy rằng nước Mỹ đang ở bờ vực của một cuộc suy thoái lớn và cần phải nhanh chóng thông qua việc cắt giảm thuế nếu muốn ngăn chặn nó. Dù bị sốc vì đó hầu như là hành động đầu tiên của Kennedy sau khi trúng cử, vị Tổng thống trẻ vẫn tỏ ý sẽ nghe theo lời Samuelson. Tuy nhiên, ông đã bị ám sát khi còn chưa kịp thực hiện điều đó. Dù vậy, người kế nhiệm Lyndon B. Johnson vẫn quyết định theo đuổi kế hoạch dang dở của Kennedy, và kết quả là nền kinh tế Mỹ đã bật [dậy] được trở lại.

Định lý kinh tế

Là một người đa năng, Samuelson đã làm thay đổi cách tư duy về gần như tất cả mọi vấn đề của kinh tế, từ việc Marx muốn nói gì trong học thuyết lao động về giá trị của ông tới việc liệu giá trị chứng khoán có dao động ngẫu nhiên hay không. Samuelson là người đầu tiên đưa toán học lên làm căn bản của tư duy kinh tế bằng cách chứng minh rằng người ta có thể rút ra được những dự đoán mạnh từ những giả thiết toán học đơn giản.
Trong sự nghiệp của mình, Samuelson đã khám phá và phát triển rất nhiều định luật kinh tế có giá trị. Chẳng hạn như định luật về các chu kỳ kinh doanh có tác dụng giúp nắm bắt được xu hướng dao động của các nền kinh tế thị trường. Hay định luật Stolper-Samuelson mà ông hợp tác phát triển cùng một người bạn, trong đó chỉ ra rằng việc nhập hàng thiết yếu từ các nước kém phát triển như quần áo có thể làm giảm lương của những công nhân thu nhập thấp ở những nước công nghiệp. Dù là người ủng hộ tự do thương mại, song chính định luật Stolper-Samuelson nói trên lại góp phần tạo ra cơ sở lý luận cho những người phản đối nó.
Ngoài ra, Samuelson còn là người đầu tiên định ra khái niệm hàng hóa công, nghĩa là những loại hàng hóa chỉ có thể được phân phối một cách hiệu quả qua các hành động tập thể hay của chính phủ. Quốc phòng là một dạng hàng hóa công, theo Samuelson, vì nó không độc quyền, và mọi công dân đều được hưởng lợi từ nó. Hàng hóa công đối lập với hàng hóa thông thường, như quả táo chẳng hạn. Quả táo của người này nghĩa là không còn của người kia. Samuelson kết luật, hàng hóa công không thể "bày bán" được trên thị trường tư nhân, bởi chẳng ai tự nguyện bỏ tiền ra mua nó cả.
Nguyên lý dự báo

Samuelson cũng là người đã nâng những phân tích toán học lên những tầm cao mới về độ phức tạp. Chẳng hạn, ông đặt ra và tìm cách giải quyết câu hỏi về phản ứng của một nền kinh tế đương ổn định trước những biến động khó lường, như thiên tai, chiến tranh hay thay đổi công nghệ. "Nguyên lý về sự tương ứng" của Samuelson chỉ ra mỗi liên kết về mặt lý thuyết giữa hành vi của các cá nhân với tính ổn định tổng thể của cả hệ thống kinh tế, qua đó giúp đưa ra những dự báo về sự ổn định chung của nền kinh tế.
Samuelson còn phát triển một mô hình toán học cho phép phân tích sự phát triển của các nền kinh tế mà sau này được các học giả sử dụng để nghiên cứu những vấn đề như hoạt động của hệ thống an sinh xã hội hay việc quản lý nợ công. Ngoài ra, ông còn góp phần phát triển hệ thống lập trình tuyến tính, một công cụ được các tập đoàn và những nhà hoạch định chiến lược ở các nước xã hội chủ nghĩa sử dụng trong việc tính toán làm cách nào có thể sản xuất được một lượng hàng hóa và dịch vụ nhất định với chi phí thấp nhất.
Trong giai đoạn sau của sự nghiệp, Samuelson nghiên cứu cả về những biến đổi của thị trường chứng khoán, tạo tiền đề cho các học trò của ông là Merton và Myron S. Scholes thiết kế nên công thức vẫn được các chuyên gia phân tích ở Phố Wall sử dụng khi mua bán các loại chứng khoán phức tạp (như chứng khoán phái sinh).
Nhờ công thức ấy, Merton và Scholes đã được trao giải Nobel kinh tế.
(theo New York Times)
http://gatebeepers.blogspot.com/

Link to full article

Gạo đồ, “vũ khí” xuất khẩu mới của Việt Nam

“Năm 2012, Việt Nam dự kiến xuất khoảng 400 nghìn tấn gạo đồ, mặt hàng mà chúng ta đang có hướng đẩy mạnh xuất khẩu”.

Đó là thông điệp của ông Trương Thanh Phong, Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA).


Gạo đồ là loại gạo thu được từ thóc được ngâm nước nóng hoặc sấy trong hơi nước rồi phơi khô, sau đó mới được gia công chế biến qua các công đoạn chế biến khác như xay, xát, đánh bóng. Tại một số quốc gia, xu hướng sử dụng gạo đồ thay cho gạo trắng đang tăng lên, đặc biệt là ở các vùng dân cư có thu nhập cao.

“Sản xuất gạo đồ phải dùng lúa tươi, như vậy vừa giải quyết được vấn nạn lúa ướt trong vụ hè-thu cho bà con nông dân vừa nâng cao được giá trị hạt gạo. Giá gạo đồ xuất khẩu tốt hơn cả loại gạo 5% tấm”, ông Phong nói.

Giá gạo đồ Việt Nam bán ra bình quân cao hơn loại gạo 5% tấm từ 50-60 USD/tấn. Ông Nguyễn Ngọc Trung, Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư Vinh Phát cho biết, mỗi năm công ty đã xuất khẩu khoảng 20 đến 30 nghìn tấn gạo đồ. Riêng năm 2011, công ty đã tăng sản lượng xuất khẩu lên khoảng 42.000 tấn/năm.

Giá xuất bình quân 570 USD/tấn, thị trường là Nigeria, Trung Đông, Nga và các nước châu Phi. Công suất chế biến của nhà máy khoảng 90.000 tấn/năm, nhưng hiện công ty chỉ mới xuất khẩu 1/2 công suất chế biến của nhà máy.

Giá gạo đồ hiện đang ở mức tương đối cao so với gạo trắng, do vậy năm 2012, Vinh Phát có kế hoạch tăng sản lượng xuất khẩu lên 60 nghìn tấn, nếu thị trường thuận lợi sẽ nâng lên 90.000 tấn.

Từ đầu năm 2010, các doanh nghiệp Việt Nam đã bắt đầu tham gia thị trường gạo đồ thế giới. Ngoài các nhà máy đang hoạt động, hiện Tổng công ty Lương thực Miền Nam (Vinafood 2) đang đầu tư xây dựng thêm 3 nhà máy sản xuất gạo đồ tại 3 tỉnh khác nhau ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long, khi 3 nhà máy này đi vào hoạt động, Vinafood 2 dự kiến sẽ xuất khẩu khoảng 300 nghìn tấn/năm.

Mặc dù xuất khẩu gạo đồ có mức giá hấp dẫn và cho lợi nhuận cao, lại giải quyết được lúa ướt vụ hè thu cho bà con nông dân, nhưng nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa mạnh dạn đầu tư vào lĩnh vực này. “Sở dĩ lâu nay chúng ta chưa mạnh dạn vì xây dựng nhà máy gạo đồ đòi hỏi vốn đầu tư lớn hơn các nhà máy thường. Tuy nhiên, đó không phải là vấn đề, mà cái chính là làm sao chen chân vào thị trường gạo đồ, vì đây là thị trường hẹp, phải rất cố gắng mới mong chiếm được thị phần”, một doanh nghiệp ở đồng bằng sông Cửu Long nói.

Đại diện một doanh nghiệp khác thì đánh giá, mặc dù chất lượng gạo đồ Việt Nam chưa bằng gạo đồ Thái Lan, nhưng lại hơn Pakistan và Ấn Độ, nên có thể cạnh tranh tốt với họ.

Vấn đề còn lại là tùy thuộc vào khả năng của các doanh nghiệp, liệu họ có thể giành được thị trường gạo đồ từ tay của các doanh nghiệp các nước đã có thị phần ổn định trên thị trường thế giới, nhất là đối với các doanh nghiệp Thái Lan?


Link to full article

4 lý do bạn nên chọn Marketing Online

• Tính tương tác cao: tạo được phản ứng 2 chiều giữa nhà tiếp thị và thị trường, giúp người làm tiếp thị hiểu và xử lý nhanh phản ứng của thị trường

• Hiệu quả cao vì lan tỏa nhanh, tiết kiệm chi phí, sản phẩm dịch vụ của DN có thể được tiếp thị 24/24 trong ngày.

• Xác định rõ được phân khúc KH: mỗi công cụ sẽ áp dụng cho một phân khúc KH khác nhau, phù hợp với đặc tính của mỗi KH.

• Sự tích hợp công nghệ số hội tụ giúp chúng ta có nhiều lựa chọn hơn như cùng lúc có thể tác động đến KH bằng email, web, điện thoại, SMS...


Trong quá trình xây dựng và phát triển thương hiệu của mỗi doanh nghiệp, bên cạnh những phương tiện quảng cáo truyền thống như TV, báo, tạp chí, Internet đóng vai trò quan trọng và là một phương tiện hiệu quả, tiết kiệm trong việc xây dựng nhận thức của người tiêu dùng đối với một thương hiệu.

Người làm marketing có thể sử dụng tất cả những ứng dụng của trang web, nhằm quảng cáo, tăng cường quan hệ với công chúng, xây dựng những cộng đồng trên mạng để tạo những ấn tượng tốt cho thương hiệu.

Các công cụ Marketing Online

Marketing qua công cụ tìm kiếm (Search Engine Marketing-SEM)

Nâng cao thứ hạng và vị trí của trang web thông qua các seach engines, đặt các quảng cáo thu hút người xem hay việc xuất hiện trên những trang web được chú ý nhất.

Email Marketing

Cung cấp thông tin về sản phẩm, dịch vụ và thu thập phản hồi về sản phẩm, dịch vụ từ khách hàng thông qua email. Bạn cần thu thập địa chỉ email của khách hàng tiềm năng hoặc có thể mua.

Banner quảng cáo

Đây là hình thức mua các vị trí trên trang web bên ngoài công ty để đặt các mẫu quảng cáo. Hình thức marketing trực tuyến này phát triển lên từ phương pháp quảng cáo truyền thống là đặt các mẫu quảng cáo trên báo hoặc tạp chí.

PR Online

Đó là việc viết và đăng bài viết về những tin tức thời sử đáng chú ý của công ty trên hệ thống internet (báo điện tử, website, diễn đàn …)

Blog & Social Media

Là cách xây dựng blog và cùng chia sẻ những nhận xét hoặc quan điểm cá nhân, tạo nên những chủ đề thảo luận trên các diễn đàn cũng như các hoạt động do chính blogger để giới thiệu đường link đến trang web sản phẩm, dịch vụ trực tuyến.

Article marketing

Xây dựng nội dung trang web, viết và biên tập các bài viết liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp hoặc chia sẻ bài viết trên các trang website có liên quan. Xu hướng này đang ngày càng mở rộng. Article marketing có thể mang lại một số lượng truy cập lớn cho trang web của bạn, và các bài báo được phát tán tốt sẽ mang thương hiệu của bạn đến một khối lượng công chúng lớn hơn.


Link to full article

Huyền thoại về lãng tử ‘sát gái’ nhất mọi thời đại

Ôi thần tượng của tôi...

-----
Có 122 người tình và được phụ nữ cả châu Âu khao khát, cuộc đời Casanova lấp lánh huyền thoại. Chàng sống như một đức ông, kết giao với cả giáo hoàng dù xuất thân khá thấp.

Giacomo Casanova (1725 – 1798, người Italy) đặc biệt đến nỗi tuy là người thật, những người đọc câu chuyện về chàng vẫn tưởng như đó là nhân vật hư cấu, bởi không thể có quá nhiều điều ly kỳ đến thế tập trung vào một con người. Cũng chính vì thế, chàng là một trong những người đi vào tiểu thuyết, sân khấu và điện ảnh nhiều nhất.

Đa tình và sát gái hơn cả Don Juan

Người ta thường so sánh, liên hệ Giacomo Casanova và Don Juan với nhau, nhưng xem ra nhân vật hư cấu Don Juan vẫn còn mờ nhạt khi đứng cạnh Casanova – con người bằng xương bằng thịt, không chỉ vì con số áp đảo 122 người tình mà chàng lãng tử cao 1m87 này chinh phục được trong đời. Nếu như Don Juan là một kẻ lừa tình, coi phụ nữ là phương tiện mang tới cho y khoái lạc và vật chất thì với Giacomo Casanova, phụ nữ là ái tình. Chàng là người biết yêu. Chàng yêu họ với trái tim nghệ sĩ nhạy cảm, thứ tình yêu không chỉ có đam mê chăn gối, trân trọng họ, biết ơn họ dù sau đó rời xa họ. Ngoài bản tính phong tình, điều này có thể “thanh minh” đôi chút cho chuyện yêu quá nhiều của Giacomo: với cuộc đời “xê dịch” hết nước này sang nước khác với tổng cộng gần 70.000 cây số đường đất trong cái thời mà việc đi lại không hề dễ dàng, thật khó để chàng giữ mãi mối liên hệ với một cô gái nào.

Những người chàng yêu và cất công theo đuổi thật muôn hình vạn trạng, đức hạnh có mà phóng đãng cũng có, từ thiếu nữ đến quý bà trung niên, từ mệnh phụ phu nhân đến thôn nữ, gái điếm, thậm chí cả các nữ tu sĩ. Có những người giúp đỡ chàng rất nhiều, nhưng cũng có những người đem lại cho chàng tai họa và nỗi đau khổ, thậm chí cả bệnh tật. Nhưng mỗi người trong mắt chàng đều có nét đẹp làm chàng say đắm. Và tất cả họ đều trao trọn trái tim cho chàng, biết ơn chàng vì đã yêu họ, đem đến cho họ những cảm xúc, những giây phút choáng váng, đê mê mà họ không thể có ở bất cứ tháng ngày nào khác trong đời. Vì thế, ngay cả khi đã chết, Giacomo vẫn là người đàn ông được khao khát nhất, là người tình trong mơ của phụ nữ châu Âu, từ nữ bá tước đến cô hầu gái trong quán trọ, và dĩ nhiên là nỗi sợ hãi của các ông chồng.

Click the image to open in full size.
Tạo hình Casanova trong phim ảnh.

Cũng vì được phụ nữ yêu dấu như vậy nên dù không hề xông xênh về tiền bạc, Giacomo vẫn sống phong lưu như ông hoàng. Phụ nữ cung phụng chàng, cấp tiền cho chàng. Chàng điềm nhiên hưởng thụ sự xa hoa với tất cả vẻ tao nhã bẩm sinh của mình. Rồi những lúc lâm vào cảnh không xu dính túi, chàng ung dung tự tại trong áo quần cũ rách, vẫn hớp hồn bao phụ nữ bằng vẻ quyến rũ ngang tàng của một kẻ giang hồ. Phụ nữ được chàng theo đuổi rồi bị chàng bỏ rơi, nhưng rất ít người oán hận bởi Giacomo “biết cách yêu họ say đắm, chiếm đoạt họ một cách nhiệt thành và cũng biết cách rời bỏ họ một cách lịch lãm”.

Giáo sĩ và tay cờ bạc bịp

Vậy Giacomo Casanova là ai? Thật khó, nói đúng hơn là không thể định nghĩa về chàng chỉ bằng một danh từ. Chàng là một nhà thám hiểm, một sĩ quan quân đội, một nhà ngoại giao, cố vấn luật pháp (Giacomo có bằng tiến sĩ luật), một tác giả (ngoài cuốn “Câu chuyện đời tôi” nổi tiếng, chàng từng viết một tiểu thuyết giả tưởng đồ sộ, và các công trình về triết học, kinh tế, y khoa, toán học…). Chàng cũng từng là điệp viên, tu sĩ, nhạc công (chơi đàn violin rất giỏi), thầy thuốc, nhà tài chính – người phát kiến ra hình thức xổ số hoàng gia nhằm kiếm tiền phục hồi nền tài chính Pháp. Bên cạnh những “nghề nghiệp” hoành tráng đó, có những lúc chàng lại là kẻ lường gạt, tay cờ bạc bịp chuyên nghiệp. Cuối đời, Casanova làm thủ thư cho một nhà quý tộc. Đa tài, đa diện và đa tình, đó chính là Giacomo Casanova.

Click the image to open in full size.
Chân dung Casanova trong đời thực.

Còn xuất thân của con người xuất chúng đó? Có bố mẹ là diễn viên và vũ công, Giacomo là con cả trong gia đình nghèo có 6 đứa trẻ. Chàng sinh trưởng tại Venice, thiên đường của các thú vui trác táng: sòng bài, kỹ nữ… Ở môi trường đó, thật dễ hiểu khi chàng đạt đến mức “thượng thừa” trong những ngón nghề, những mánh khóe giang hồ. Nhưng thật khó giải thích tại sao một đứa trẻ nghèo mồ côi cha khi 8 tuổi, mẹ đi lưu diễn liên miên, điều kiện học tập “kinh khủng” lại có thể thu thập được khối kiến thức khổng lồ để trở thành một học giả uyên bác như vậy. Casanova biết nhiều ngoại ngữ, đặc biệt nói và viết thành thạo tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Hy Lạp.

Mặc dù xuất thân thấp, Giacomo Casanova lại kết thân với những con người nổi tiếng nhất, được quý trọng nhất hoặc có địa vị cao nhất ở châu Âu thời đó. Trong số nhân vật chàng giao du có nữ hoàng Ekaterina đệ nhị của Nga, đức Giáo hoàng, các hồng y, các triết gia khai sáng Voltaire và Jean-Jacques Rousseau, văn hào Goethe, nhạc sĩ thiên tài Mozart…

Thường xuyên gây ra các scandal nên Giacomo cũng từng bị tống ngục vào năm 30 tuổi. Chàng bị giam trong phòng chì, nơi đặc biệt dành riêng để nhốt những tội phạm nguy hiểm và khó lường nhất. Ấy thế mà chỉ một năm sau, chàng đã vượt ngục thành công, lại dấn thân vào cuộc đời sôi động đủ cả thăng lẫn trầm, và những cuộc tình nồng nhiệt, đầy màu sắc.

Cuốn hồi ký đắt nhất thế giới

9,7 triệu USD là số tiền mà Thư viện quốc gia Pháp bỏ ra để mua bản gốc tập hồi ký “Câu chuyện đời tôi” gồm 3.700 trang bằng tiếng Pháp của Giacomo Casanova, được viết trong 13 năm cuối đời ông. Đó là cái giá cao nhất từ trước đến nay dành cho một cuốn hồi ký. Dù mới chỉ một phần nhỏ trong đó được xuất bản (phần còn lại dự kiến sẽ được ra mắt trong một vài năm tới), cuốn hồi ký đã gây chấn động. Ngoài những tình tiết ly kỳ về phiêu lưu và tình ái được người trong cuộc kể lại, “Câu chuyện đời tôi” cũng là nguồn tư liệu phong phú về phong tục và xã hội châu Âu thế kỷ 18.

Thư viện quốc gia Pháp đã mất đến ba năm để đàm phán việc mua bán và vận động tiền tài trợ để có được bản gốc của tập hồi ký, đựng đầy trong 11 cái thùng. Các trang giấy trải qua hơn 200 năm đã ố vàng, nhưng những dòng chữ viết nét nghiêng vẫn dễ đọc. Hiện bản gốc này vẫn được trưng bày tại Pháp và rất nhiều người tới thưởng lãm. Điều đó cho thấy vầng hào quang mang tính huyền thoại của Casanova, chàng lãng tử đa tài, “vua tán gái” lừng danh châu Âu, lấp lánh đến mức nào.

Theo Trung Thành
Đất Việt

Xem thêm: http://2sao.vn/p1003c1013n2010022414...ioi-to-mo!.vnn

Link to full article

Thứ Tư, 14 tháng 12, 2011

Con đường đắt giá nhất hành tinh

Hai năm liên tiếp giành ngôi vị đầu bảng trong danh sách những đường phố đắt đỏ nhất hành tinh, đường Severn Road tại Hong Kong có mức giá nhà tới 78.200 USD một m2.

Nằm trên ngọn đồi tuyệt đẹp Victorya Peak của Hong Kong, Severn Road có khoảng 60 hộ dân sinh sống.
Điều khiến giá nhà ở Severn Road đắt đỏ lạ thường là con phố này sở hữu một tầm nhìn tuyệt đẹp.
Tại mọi ngã rẽ trên đường Severn Road, bạn đều có thể nhìn ra được biển Đông và đường chân trời nổi tiếng tại đây.
Hầu hết ngôi nhà ở Severn Road đều có lối dẫn lên rất dốc và độc đáo.
Một trong số những biệt thự xa hoa được rao bán với giá 36 triệu USD.
Giá thuê một căn hộ tại khu nhà ở số 29 trên phố này là 20.000 USD một tháng.
Tầm nhìn của căn biệt thự số 26 này được xem là đẹp nhất tại Severn Road.
Lối dẫn vào số 8 đường Severn Road, nơi có 22 căn biệt thự liền kề được xây hồi 2006, hiện có giá 41 triệu USD mỗi căn.

Đường dẫn vào ngôi biệt thự ở số 3 đường Severn.

Căn nhà này được xây ở vị trí giao giữa đường Severn và đường Plantation. Do nằm trên đồi cao, căn nhà này có tầm nhìn đẹp bao quát ra toàn khu vực Hong Kong và vùng biển phía sau.
Lô đất số 37 đường Severn chưa được hoàn thiện.
Hai biệt thự liền kề số 21 và 23 đường Severn đang được rao cho thuê với giá 58.000 USD mỗi tháng.
Bao phủ xung quanh bởi rừng cây xanh lá, các căn biệt thự tại khu vực này nhìn xuống trung tâm Hong Kong nhộn nhịp.
Từ số nhà 19 đường Severn Road nhìn ra có thấy thấy được quang cảnh tráng lệ của đến tận chân trời Hong Kong.
Những căn nhà 4 phòng ngủ, có tầm nhìn ra Cảng Victoria này hiện được rao bán trên thị trường nhà đất Hong Kong với giá 41 triệu USD.
Sân sau của một trong số những ngôi nhà 41 triệu USD trên nhìn ra vùng biển bao la.
Đây là lối vào dinh thự số 4 đường Severn Road. Ngôi nhà ở trên một ngọn đồi cao đến nỗi người đi đường ngước "mỏi cổ" cũng khó nhìn thấy.



Link to full article