VĂN HỌC NỮ QUYỀN PHÁP THẾ KỈ XX
Nguyễn Giáng Hương1.Văn học nữ hay văn học nữ quyền
Văn học nữ (women’s literature, littérature féminine) hiểu theo nghĩa rộng không bao hàm một thể loại văn học nhất định như thơ ca, tiểu thuyết hay kịch mà là một loạt các văn bản tồn tại dưới nhiều dạng:
- nói về phụ nữ
- viết bởi phụ nữ
- hướng tới công chúng nữ
- được nữ giới đọc (ở đây chỉ một bộ phận lớn nữ giới)
- phục vụ cho một ý kiến hay lý lẽ nào đó của phụ nữ
Các dạng văn học này không tồn tại riêng lẻ mà giao thoa với nhau
trong các văn bản văn học, thể hiện tính đa dạng của văn học nữ. Khác với văn học thiếu nhi được viết bởi người lớn, văn học nữ chủ yếu do nữ giới viết. Văn học viết bởi phụ nữ được công nhận trong nền văn học chung của văn học Pháp với những thành công đáng kể ghi dấu các tên tuổi như Marguerite de Navarre, bà de Staël, Simone de Beauvoir, Marguerite Duras… nhưng cùng với văn học quần chúng văn học nữ vẫn chỉ bị xếp loại trong văn học bàng tuyến đối lập với văn học chính thống hay văn học bác học của nam giới.
Điều này không có nghĩa là văn học do phụ nữ viết chỉ là một hạt cát trong biển cát văn học Pháp nói chung, nó giống như văn học dân gian Việt Nam luôn tồn tại song hành với văn học bác học bằng chữ Hán của các bậc nho gia với số lượng tác phẩm lớn nhưng vẫn chỉ là văn học bàng tuyến. Việc sáng tác của phụ nữ chỉ được cho là thứ văn chương đi tìm bản sắc, nghiên cứu tìm tòi về các điều kiện nữ giới, mang tính tự suy ngẫm như nhận định sau đây : « Văn học nữ chủ yếu mang tính tự ngã (từ Louise Labé đến Simone de Beauvoir) và chỉ được diễn đạt dễ dãi trong thể loại hồi ký (từ Sei Shônagon đến Violette Leduc và Kathleen Raine »1. Ở những thế kỷ trước, văn học nữ bị đánh giá là sự suy đồi của cả một nền văn học Pháp vốn được coi là một nền văn học đồ sộ và tiêu biểu của châu Âu.
Người ta lo sợ rằng sự tham gia của người phụ nữ vào lĩnh vực văn chương sẽ làm mất đi giá trị chung của những người cầm bút và sự mất giá này rồi sẽ lây lan đến những ngành khác. Các nữ nhà văn bị ám chỉ bằng từ « bas-bleu » có nghĩa là « nữ văn sĩ rởm ». Theo cuốn Những nữ văn sĩ của chúng ta (Jean de Bonnefon, Emile Faguet, tử tước de Broc, Paul Flat – 1908), phái nữ viết văn được xem như trái với quy luật, trái với tự nhiên và là mầm mống của sự thoái hoá trong xã hội và trong văn đàn. Baudelaire khi nói về George Sand viết rằng : « Người đàn bà Sand là một kẻ trung thực vô đạo đức.Bà ta luôn luôn giáo huấn đạo đức. Nhưng những điều bà ta làm trước kia toàn là phi đạo đức. Hơn nữa bà ta chưa bao giờ là một người nghệ sĩ. Bà ta có phong cách viết trôi chảy của giới tư sản. Bà ta ngu ngốc, bà ta thô kệch, bà ta ba hoa ; bà ta « có đạo đức » trong những tư tưởng đạo đức, lý luận của bà sâu sắc và tình cảm của bà ta chỉ tinh tế như là một bà giữ cửa hay như những cô gái bao. […] Nếu có một vài người đàn ông phải lòng cái hố tiêu này, thì đây đúng là một minh chứng cho sự xuống cấp của nam giới thế kỉ này » (Trái tim để trần, 1887). Đàn ông được xem như độc quyền về tri thức, lý trí. Những tác phẩm của họ mang tầm vóc của cả một thời đại và có giá trị vĩnh hằng. Trong khi đó, khái niệm văn học nữ lại chỉ quan hệ mật thiết với chủ đề tình yêu, đến hình ảnh người đàn bà đang yêu trong thể loại văn chương tôn giáo (như Madeleine và Catherine des Roches, Pernette du Guillet, Louise Labé thế kỉ XVI-XVII) và văn chương quần chúng. Các tác phẩm mang một đặc điểm chung là phân tích mối quan hệ giữa hai giới thể hiện qua việc khẳng định quyền tự chủ của phụ nữ hoặc qua việc hư cấu hóa các vai trò truyền thống của phụ nữ trong các tiểu thuyết tình cảm.
Khuynh hướng tình cảm bị chỉ trích là khuyết điểm lớn nhất trong các tác phẩm văn học nữ. Người ta cho rằng nó ngăn cản mọi dụng ý về tư tưởng và nghệ thuật, khiến cho các tác phẩm của phụ nữ phần nhiều mang tính ngây thơ, tự phát. Mặt khác, các nhà văn nữ thường không tránh khỏi chủ đề về tình dục, giới tính. Họ dường như viết để quyến rũ chứ không phải vì bất kì một dự định văn học lớn lao nào. Về luận điểm này, Barbey d’Aurevilly nhận định : « một người phụ nữ có chỉ có thể có tài năng khi nghe theo những cảm xúc cá nhân, có thể viết chúng ra nhưng rất hiếm khi có khả năng viết nên một cuốn sách vượt ra ngoài những tình cảm ấy » (Tác phẩm và con người, 1887).
Ngoài chủ đề tình yêu, văn học nữ còn có mối liên hệ mật thiết với văn học thiếu nhi. Phụ nữ là những người đầu tiên viết văn học về tuổi thơ và văn học dành cho trẻ em. Thể loại này còn có thể được gọi là văn học nữ về thiếu nhi, nó thể hiện những rung cảm của phụ nữ về tuổi thơ, chức năng giáo dục, cái nhìn cá nhân của trẻ nhỏ… Khác với văn học nữ, văn học nữ quyền xuất hiện như một dòng văn học phản kháng, văn học dấn thân. Dòng văn học này chỉ được viết bởi phụ nữ. Khái niệm văn học nữ quyền đánh dấu sự xuất hiện của một loạt những câu hỏi mới trong diễn ngôn về khoa học văn học : khái niệm về văn học như một cơ cấu trật tự xã hội phụ quyền, định nghĩa và chức năng của tính nữ như một hiệu chỉnh cho cơ cấu trật tự xã hội đó… Evelyne Gauthier nhận
xét : không tồn tại một dòng văn học nào gọi là « văn học nam giới » đối lập với văn học nữ cũng như văn học nữ quyền với một số đặc thù riêng. Quả vậy, văn học do đàn ông viết từ xưa đến nay hiển nhiên được công nhận là văn học chính thống, văn học phổ quát của nhân loại. Cũng chính vì lý do này một số nhà văn nữ đương đại phủ nhận sự tồn tại của văn học nữ cũng như văn học nữ quyền bởi họ cho rằng khi nào còn khẳng định sự tồn tại của dòng văn học này là còn phủ định vai trò bình đẳng của phụ nữ so với đàn ông trong việc sáng tác văn chương.
Mặt khác, nghiên cứu về giới (gender study, études du genre) dựa trên cơ sở các tác phẩm nữ quyền luận không những bàn về các vấn đề tường minh về quan hệ và bình đẳng giữa hai giới mà còn hàm ẩn một ý nghĩa xâu xa hơn về mặt lý luận văn học. Nó làm sáng tỏ lập luận của Michel Foucault về vấn đề thiết trị hoá và giải thiết trị. Chân lý không tự nhiên mà có, nó được một thế lực hay quyền hạn sơ khai nào đó chuyển hoá từ một nhận thức của con người. Phê bình (critique) là một hình thức giải thiết trị, đặt lại câu hỏi về những giá trị tưởng như đã thành luật, thành chân lý2. Theo cách đó văn học nữ quyền là một hình thức giải thiết trị cái chân lý về vai trò tối thượng của đàn ông, về những vai trò truyền thống của phụ nữ từ xưa đến nay vẫn được coi là thuộc về « quy luật tự nhiên », là « thiên chức của người phụ nữ ». Nghiên cứu về giới ở phạm vi rộng hơn góp phần khẳng định tính lịch sử tương đối của chân lý.
Văn học nữ quyền không tồn tại tách biệt với văn học nữ, nó nằm bên trong mảng văn học nữ nhưng với một ý đồ đấu tranh bình đẳng giới rõ rệt hơn. Văn học nữ quyền cùng với phong trào bình đẳng giới là điều kiện để văn học nữ nói chung phát triển cả về quy mô lẫn chất lượng. Văn học nữ cũng như văn học nữ quyền Pháp càng ngày càng phát triển nhờ những tiến bộ trong các điều luật xã hội và phong trào nữ quyền. Vào các thế kỉ trước, các nữ văn sĩ chủ yếu thuộc tầng lớp quý tộc hay tư sản. Chỉ từ sau bộ luật Ferry (1881) về miễn phí giảng dạy ở bậc tiểu học, văn chương mới bắt đầu mở rộng đến những tầng lớp xã hội khác. Bổ sung cho luật Guizot (luật về giáo dục tiểu học – 1833) buộc mọi xã có dân số 500 dân phải có một trường học nam sinh, luật Falloux (1850) buộc phải có một trường nữ sinh cho mỗi xã có dân số 800 dân.
Đến năm 1925, học sinh nam và nữ được hưởng cùng một chế độ và nội dung giáo dục như nhau. Những kiến thức ngang bằng với nam giới cũng tạo điều kiện cho nhiều phụ nữ sáng tác các tác phẩm có chất lượng hơn. Năm 1907, phụ nữ có quyền tự do sử dụng tiền lương của mình. Và đặc biệt vào ngày 21 tháng tư năm 1944, trước làn sóng đấu tranh biểu tình của phụ nữ tại Pháp và trên toàn châu Âu, chính phủ Pháp đã thông qua việc phụ nữ cũng có quyền và nghĩa vụ bầu cử như nam giới. Tuy nhiên, thực tế cho thấy phải đến thế kỷ XXI phụ nữ mới có vị trí tương đối ngang hàng với đàn ông trong các hoạt động chính trị.Nếu như đấu tranh đòi quyền bình đẳng nam nữ về mặt pháp lý đã khó thì công cuộc đấu tranh về mặt tư tưởng lại càng khó khăn dai dẳng hơn. Chính vì vậy, từ sau chiến tranh thế giới thứ II và việc thông qua quyền bầu cử của phụ nữ, phong trào nữ quyền diễn ra chủ yếu trên lĩnh vực tư tưởng với nhiều cây bút sắc bén như Renée Vivien, Germaine Beaumont, Simone de Beauvoir, Nathalie Sarraute, Monique Wittig, Marguerite Duras…
Phong trào nữ quyền tại Pháp bắt đầu xuất hiện từ thế kỉ thứ XV, thế kỷ XVII-XIX với những gương mặt tiêu biểu như bà Staël, George Sand, Rachilde và thế kỉ XX đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong công cuộc đấu tranh đòi quyền bình đẳng giới. Trong phạm vi bài viết này chúng tôi chỉ giới hạn trong văn học nữ quyền thế kỷ XX, cụ thể là làn sóng nữ quyền thứ hai (làn sóng nữ quyền thứ nhất : từ thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX chủ yếu diễn ra ở Anh và Mỹ, làn sóng thứ hai: đầu thập niên 60 đến những năm 70, làn sóng thứ ba : từ những 90 đến nay) với một vài xu hướng tiêu biểu.
Văn học nữ quyền Pháp thế kỷ XX được định nghĩa như một thể loại sáng tác văn chương với một chủ thể-khách thể năng động : người phụ nữ trong quá trình giải phóng mang tính lịch sử. Sự tồn tại của dòng văn học này nằm trong tổng thể các dòng văn học đấu tranh, thậm chí là các dòng văn học chính trị, các dòng văn học cách mạng trong chừng mực nó nhắm tới một sự biến đổi căn bản của các mối quan hệ xã hội.
2.Một vài xu hướng văn học nữ quyền Pháp thế kỉ XX
Xu hướng trung hoà Năm 1949, tác phẩm Giới thứ hai của Beauvoir ra mắt công chúng như một quả bom phát nổ. Ở Việt Nam, tác phẩm này đã được giới thiệu khác chi tiết trong bài viết « Giới thứ hai của Simone de Beauvoir và vấn đề nữ quyền » (Bùi Thị Tỉnh, Tạp chí thông tin KHXH, số 7/2005). Về bản dịch của tác phẩm hiện chúng tôi chưa xác minh được đã có bản dịch sang tiếng Việt hay chưa. Trong bài viết này chúng tôi chỉ xin điểm qua một số luận điểm khái quát về nữ quyền luận mà bà nêu ra trong tác phẩm. Simone de Beauvoir (1908-1986) là một nhà lý luận tiên phong của chủ nghĩa nữ quyền luận Pháp, gương mặt tiêu biểu cho làn sóng nữ quyền thứ hai. Tác phẩm Giới thứ hai được coi là tác phẩm lý luận dẫn đường cho phong trào phụ nữ hiện đại Pháp. Lần đầu tiên những vấn đề về cơ thể, sinh lý, những cụm từ như « dữ liệu sinh học », « đồng tính » được nhắc đến đã gây nên một cú sốc trong công chúng và giới báo chí nhất là khi bộ môn giáo dục giới tính vẫn còn chưa được biết đến. Đây là một công trình mang tính khoa học, xã hội và lịch sử xoay quanh nhận định: Thế giới này luôn luôn thuộc về phái mạnh ». Những cơ sở vật chất và tư tưởng dựa trên đó duy trì sự thống trị về mặt xã hội của đàn ông đối với phụ nữ được đưa ra phân tích. Trước tiên, bà mổ xẻ những dữ liệu sinh học để cho thấy sự khác biệt giữa con cái và con đực trong tự nhiên và những thiệt thòi của con cái so với con đực cùng loài. Tương tự như vậy, ở loài người phụ nữ sinh ra nhỏ bé yếu đuối hơn đàn ông, vì vậy nam giới có vị trí cao hơn trước hết vì họ có sức mạnh. Bà khẳng định rằng : « Mọi lịch sử của phụ nữ đều do đàn ông tạo nên. […] ngay từ đầu với sức mạnh về thể chất họ cũng có luôn uy thế về tinh thần, họ đã tạo ra những giá trị, những tập quán, những tôn giáo ; và không bao giờ người phụ nữ cãi lại đế chế đó ».
Để chứng minh điều đó, Beauvoir đã tổng kết các điều kiện sống về mọi mặt kể cả đời sống tâm lý, tình cảm của người phụ nữ qua các huyền thoại truyền thuyết, qua từng thời kì lịch sử từ thời cổ đại đến hiện đại, đưa ra nền tảng lịch sử xã hội hình thành một người phụ nữ : những xuyên tạc, áp bức đối với trẻ em gái, quan niệm về hôn nhân và sự phục tùng, về thiên chức làm mẹ…. Bà kết luận rằng vấn đề bất bình đẳng nam nữ không do tự nhiên quyết định mà là một vấn đề về văn hoá : « Không phải với cơ thể sinh học, mà với cơ thể sinh học gắn chặt với những điều cấm kị, những luật lệ mà chủ thể ý thức về bản thân và tự hoàn thiện : chính dựa trên những giá trị mà cá nhân nâng cao phẩm cách. » vì vậy mà « Người ta sinh ra không phải là phụ nữ mà trở thành phụ nữ » (câu nói này đã trở thành một tuyên ngôn bất hủ của bà đối với chủ nghĩa nữ quyền luận Pháp). Thực tế, người phụ nữ là một thực thể xã hội được cấu thành bởi những đặc trưng về tâm lý, không phải về sinh lý. Từ đó bà nhận định nếu như bất bình đẳng nam nữ không do tự nhiên quy định thì việc giải phóng phụ nữ dẫn đến bình đẳng giữa nam và nữ là hoàn toàn có thể.
Link to full article
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét