Lịch sử Standard & Poor’s
1.Quá trình hình thành Standard & Poor’sLịch sử hình thành của S&P song hành cùng với lịch sử của thị trường tài chính hiện đại. Trong khoảng 150 năm, S&P và các tổ chức tiền thân trước đó của nó đã tập trung cho nhu cầu cung cấp dữ liệu, thông tin chất lượng cao đúng lúc và các phân tích toàn cầu cho các nhà đầu tư.
1.1 Giai đoạn khởi đầu: 1860-1940
1.1.1 Từ 1830-1869
Thập niên 30 đến 70 thế kỷ 19 chứng kiến sự tăng trưởng thị trường vốn tư nhân ở Mỹ. Điều này được khuyến khích một cách rộng rãi bởi sự phát triển của ngành công nghiệp đường sắt thông qua tài trợ của tư nhân và công cộng. Tuy nhiên sự mình bạch và sẵn sàng trong các hồ sơ doanh nghiệp, trong các giao dịch tài chính và sự độc lập trong phân tích của bên thứ 3 là hết sức hạn chế.
Năm 1860, Henry Varnum Poor (1812-1905) xuất bản Lịch sử của đường sắt và kênh đào ở Mỹ. Đây là sự cố gắng vượt bậc đầu tiên nhằm thu thập một báo cáo bao hàm những chi tiết về tài chính và hoạt động ở Mỹ.
Đường sắt là một ngành công nghiệp tập trung nhiều vốn nhất và quy mô lớn nhất ở Mỹ thời đó. Công bố này của Henry Varnum Poor là tiền đề của Hướng dẫn về công nghiệp đường sắt ở Mỹ.
Năm 1868, sau khi tạo dựng công ty H.V và H.W Poor cùng với con trai là Henry William Poor (1844-1915), Hướng dẫn về công nghiệp đường sắt ở Mỹ trong vòng vài tháng đã bán được 2500 bản trong số đầu tiên. Mỗi bản 442 trang, giá 5$ và chứa những thông tin chủ yếu cho nhà đầu tư về ngành công nghiệp đường sắt ở Mỹ. Sách Hướng dẫn này được cập nhật thường xuyên, giúp cho nhà đầu tư đi đúng hướng và giúp họ có thể lập biểu đồ về sự tăng trưởng của các công ty mà họ đầu tư trong nhiều năm.
1.1.2 Từ 1870-1914
Năm 1873, khi đã 61 tuổi, Henry Varnum Poor nghỉ hưu ở Brookline, nơi ông tiếp tục viết về những công việc kinh tế và chỉnh sửa sách mà ông đã viết. Ông cũng hỗ trợ cho con trai, Henry William Poor trong việc tạo dựng một hãng tài chính làm về ngân hàng và môi giới bảo hiểm (Poor & Co). Hãng này 30 năm sau là một trong những hãng dẫn đầu Wall Street.
Năm 1906, Luther Lee Blake (1874-1953), cũng như Henry Poor, đã nhận thấy nhu cầu cần những nguồn thông tin tài chính tập trung, chính xác từ các nhà đầu tư. Và ông ta đã thành lập Cục thống kê tiêu chuẩn (Standard Statistics Bureau). Cục thống kê này, mà chức năng không chỉ tập trung cho ngành đường sắt, đã xuất bản những tấm thẻ 5*7 inch chứa những thông tin mới về các doanh nghiệp. Theo cách này, các hãng có thể liên tục cập nhật thêm thông tin bao quát mà cuối cùng thì các tấm thẻ này được tập hợp trong một tuyển tập thường kỳ.
Năm 1913, Blake mua Hệ thống thẻ trái phiếu và chứng khoán Babson từ Edward Shattuck và Roy.W. Porter. Hệ thống này xuất bản các báo cáo tài chính về chứng khoán và trái phiếu tương tự như những thẻ được xuất bản bởi Cục thống kê tiêu chuẩn.
Năm 1914, hứng khởi với sự phát triển vượt bậc, cục thống kê tiêu chuẩn đã chuyển thành công ty thống kê tiêu chuẩn (Standard Statistics Inc.). Tuyển dụng hơn 70 nhân viên. Roy.W.Porter sau đó mua lại công ty Moody Manual (một nhà cung cấp thông tin tài chính khác). Porter cũng bắt đầu đàm phán để mua lại công ty H.V và H.W Poor và công ty Poor’s Railroad Manual (công ty về nghiên cứu xuất bản sách hướng dẫn về công nghiệp đường sắt).
1.1.3 Từ 1915-1940
Năm 1919, Porter sát nhập công ty Moody Manual với công ty Poor’s Railroad Manual . Đồng thời đổi tên thành công ty Poor’s Publishing.
Năm 1922-1923, công ty Poor’s Publishing và công ty thống kê tiêu chuẩn lần lượt theo thứ tự bắt đầu xếp hạng trái phiếu công ty và chứng khoán địa phương.
Năm 1923, trong một cố gắng để phản ánh xu hướng thị trường. Công ty thống kê tiêu chuẩn lần đầu tiên đưa ra chỉ số thị trường chứng khoán (của 233 công ty ở Mỹ). Bằng một quá trình tự động hóa, chỉ số vốn hóa được tính toán và đưa ra công chúng hàng tuần.
Năm 1926, công ty thống kê tiêu chuẩn lập ra chỉ số giá cả hợp nhất chứng khoán (Stock composite Price Index) dựa trên 90 loại chứng khoán. Kết quả được đưa ra hàng ngày.
Năm 1929, trước sự sụp đổ của thị trường chứng khoán vào tháng 10. Cả công ty thống kê tiêu chuẩn và công ty Poor’s Publishing đều khuyên đối tác chuyển đổi các loại tài sản của họ vì các công ty này đã nhận ra rằng đầu cơ là nguyên nhân làm giá chứng khoán đi đến cấp độ không thể cứu vãn.
Năm 1930, công ty thống kê tiêu chuẩn dời tới sơ sở hiện đại hơn ở số 345 đường Hudson. Bị tác động mạnh bởi sự đổ vỡ của thị trường chứng khoán, công ty Poor’s Publishing bị phá sản. Paul.T. Babson, là bà con của Roger.W. Porter đã tái tài trợ cho công ty và trở thành cổ đông đa số.
1.2 Giai đoạn sát nhập và phát triển: 1941-1965
1.2.1 Từ 1941-1950
Năm 1941, công ty thống kê tiêu chuẩn (Standard Statistics Inc.) sát nhập với công ty Poor’s Publishing hình thành nên tập đoàn Standard & Poor’s (S&P). Chủ tịch đầu tiên là Clayton Penhale.
S&P xuất bản những cẩm nang trái phiếu với danh sách xếp hạng khoảng 7000 trái phiếu địa phương. Cẩm nang trái phiếu chủ yếu cung cấp thông tin thống kê và xếp hạng trái phiếu công ty.
Năm 1942, chiến tranh thế giới thứ 2 là nguyên nhân của những khó khăn trong việc duy trì nhân sự và hoạt động. Mặc dù có những khó khăn này nhưng sự quản trị của S&P đã khiến cho nó phát triển về thu nhập và nhân công kể từ mức rất thấp những năm sau khủng hoảng. S&P bắt đầu khám phá công cụ thư tín trực tiếp, mà việc này sẽ tạo ra sự tăng thêm những khách hàng lâu dài. Điều này cũng giúp bán thêm những sản phẩm khác của S&P.
Năm 1946, S&P bắt đầu kỷ nguyên của máy tính tự động với sự hoạt động của hệ thống thẻ điện tử IBM để tập hợp và lưu trữ thông tin các công ty của Mỹ. Đến năm 1946, hơn 50% tổng thu nhập và lợi nhuận đến từ những dịch vụ mà trước đó chưa hề có (thời công ty Poor’s Publishing và công ty thống kê tiêu chuẩn).
Đến năm 1950, tuyển tập S&P cùng với việc thu phí thương mại đã làm thu nhập vượt quá con số 5 triệu mark. Con số này tăng gấp đôi 9 năm tiếp theo.
1.2.2 Từ 1951-1965
Năm 1957, chỉ số chứng khoán S&P 500 được giới thiệu và được dự định là chỉ số chiếm ưu thế đối với nhà đầu tư.
Năm 1959, nhân viên S&P vượt con số 600.
Năm 1962, S&P trở thành công ty niêm yết cổ phiếu tại sở giao dịch chứng khoán New York.
Năm 1964, S&P Compustat được triển khai với nền tảng tiêu chuẩn chất lượng cao với dữ liệu thị trường cung cấp cho các chuyên gia đầu tư trên khắp thế giới.
Năm 1960, S&P phát triển những sản phẩm mới ví dụ như dịch vụ định giá trái phiếu địa phương và công ty. S&P bắt đầu tìm kiếm các vụ mua bán và thực sự đã đạt được với việc mua lại Trendlne, The Bluelist và các dịch vụ khác.
1.3 Giai đoạn mở rộng vai trò trong thị trường toàn cầu: 1966-2008
1.3.1 Từ 1966-1980
Năm 1966, công ty Mc Graw-Hill mua lại S&P. Mở rộng hoạt động của Mc Graw-Hill tới lĩnh vực dịch vụ thông tin tài chính.
Năm 1969, S&P thành lập Ủy ban quy trình nhận diện chứng khoán (CUSIP). Mà nó đã trở thành tiêu chuẩn nhận dạng cho tất cả các chứng khoán . Nếu không có CUSIP thì Wall Street không thể thực hiện một lượng giao dịch khổng lồ diễn ra hằng ngày.
S&P bắt đầu xếp hạng báo chí thương mại và cũng bắt đầu đưa ra xếp hạng địa phương.
Năm 1974, S&P đưa ra xếp hạng doanh nghiệp.
Năm 1975, S&P ngừng xếp hạng trái phiếu thành phố New York. Quyết định được đưa ra bởi các nhà bao tiêu một cách khiên cưỡng để có thể giúp cho thành phố bán hoặc kéo dài thời hạn thanh toán các khoản nợ. S&P cũng lần đầu tiên xếp hạng những loại chứng khoán cầm cố bất động sản, đánh dấu cho sự ra đời của những sản phẩm chứng khoán phức tạp mới và khai sinh ra thị trường tài chính cấu trúc.
Năm 1976, S&P được bổ nhiệm là Tổ chức xếp hạng thống kê nhận diện quốc gia (NRSRO) bởi SEC (ủy ban chứng khoán). Sự bổ nhiệm là kết quả từ sự chấp nhận rộng rãi của các nhà đầu tư về việc xếp hạng của S&P. Phản ánh sự tin trưởng của thị trường đối với sự độc lập, minh bạch, tín nhiệm và khách quan của S&P.
Sau thập niên 70, dịch vụ xếp hạng tín dụng S&P nhận ra những sự chuyên biệt trong ngành và họ bắt đầu xếp hạng khả năng chi trả của các công ty bảo hiểm. Thêm nữa, S&P bắt đầu xếp hạng các công ty chứng khoán và quỹ đầu tư.
Chương trình hội nghị chuyên đề của S&P được khởi động. Lần đầu tiên S&P công bố những hội nghị chuyên đề về tiêu chuẩn xếp hạng và lần đầu tiên người ta có thể mổ xẻ nhìn rõ những phân tích từ bên trong. S&P cũng hệ thống hóa phương pháp xếp hạng và xuất bản quyển sách đầu tiên về tiêu chuẩn xếp hạng.
1.3.2 Từ 1981-1987
Năm 1981, ấn bản đầu tiên của CreditWeek được phát hành. Điều này đã cung cấp một sự chuyên nghiệp trong tài chính với sự phân tích nội tại và mở rộng khách quan về thị trường tín dụng toàn cầu.
Năm 1982, S&P bắt đầu xếp hạng giấy tờ có giá địa phương, thành phố, nhà nước và định chế công cho tới thị trường tài sản vốn toàn cầu.
Năm 1984, S&P trở thành đại diện xếp hạng tín dụng chủ yếu đầu tiên mở văn phòng tại London để phục vụ thị trường Châu Âu. Sau đó khoảng 20 năm tiếp theo, S&P mở thêm văn phòng trên 20 nước trên thế giới.
S&P bắt đầu xếp hạng quỹ đầu tư thị trường tiền tệ và quỹ trái phiếu.
Năm 1986, S&P mở văn phòng ở Tokyo, lần đầu tiên chỉ định một phụ nữ làm trưởng văn phòng và bắt đầu xếp hạng chứng khoán cầm cố tài sản. Nghiên cứu về tài sản cũng được S&P triển khai và đó là hệ thống xếp hạng đánh giá chứng khoán (STARS) tại Mỹ. 20 năm tiếp theo, số lượng chứng khoán mà S&P “mua, giữ và bán vị trí” vượt quá con số 1500 ở Mỹ và 500 ở Châu Âu-Châu Á Thái Bình Dương.
1.3.3 Từ 1988-1998
Năm 1988, S&P nhận ra được sử mở rộng cơ hội thông qua các đối tác nước ngoài. S&P đã thâm nhập tham gia kinh doanh mạo hiểm với trường kinh tế Stockholm để xây dựng nên Nordisk Ratings ở Thụy Điển. Thời gian này S&P tái cấu trúc lại, phân chia thành tập đoàn xếp hạng S&P và tập đoàn thông tin tài chính S&P.
Năm 1990, S&P thiết lập liên doanh mạo hiểm với ADEF (L’association des estudies foncières) để thâm nhập thị trường Pháp.
S&P còn liên doanh với Australian Ratings và hoàn toàn sở hữu nó vào năm 1996.
S&P sát nhập với Insurance Solvency International. Đẩy mạnh tăng trưởng của hãng trong việc xếp hạng bảo hiểm nhưng nơi ngoài nước Mỹ.
S&P là cơ sở xếp hạng tín dụng đầu tiên giới thiệu dịch vụ trực tuyến điện tử: CreditWire, nhờ nó mà truyền bá việc xếp hạng và phân tích rộng rãi.
Năm 1991, S&Pgiới thiệu Midcap400, một chỉ số được thiết kế cho thị trường Midcap của Mỹ.
Năm 1992, S&P mở văn phòng ở Frankfurt nhằm xếp hạng những sản phẩm phái sinh và tổ chức hoạt động ở Tây Ban Nha.
Năm 1994, S&P giới thiệu SmallCap600, một chỉ số SmallCap của Mỹ. Chỉ số này là kết hợp giữa SP500 và S&P MidCap400.
S&P1500 được thiết lập, cung cấp cho các nhà đầu tư một thước đo nhất quán về tài sản ở Mỹ.
Năm 1996, S&P giới thiệu những nhóm công nghiệp mới bao trùm hơn 8700 loại chứng khoán trong cơ sở dữ liệu. Hệ thống mới chia chứng khoán một cách đa dạng trong 11 khu vực kinh tế mà 11 khu vực này được chia thành 122 nhóm công nghiệp.
Giữa thập niên 90, S&P mở rộng hoạt động toàn cầu tới Toronto, Mexico, Hongkong, Singapore, Argentina và Moscow. Đồng thời mở thêm nhiều văn phòng đại diện tại Mỹ.
1.3.4 Từ 1999-2003
Năm 1999, chủ tịch chung cho 2 khu vực xếp hạng và dịch vụ tài chính là Leo O’Neill.
Năm 2001, trong vòng 24h ngày 11/9/2001 S&P đã xuất bản báo cáo đầu tiên về sự bình ổn, sức mạnh của Mỹ và thị trường cũng như kinh tế toàn cầu.
Năm 2002, S&P triển khai chỉ số quỹ dự phòng (Hedge fund Index) với sự tổng hợp của 40 quỹ dự phòng.
Năm 2003, S&P thông báo đạt được thỏa thuận với Citigroup để mua lại chỉ số thương mại tiêu chuẩn toàn cầu Smith Barney, mà chỉ số này bao trùm hơn 7500 công ty trong 52 thị trường toàn cầu. Điều này làm cho S&P trở thành nhà cung cấp dịch vụ chỉ số đầy đủ nhất. Có khả năng cung cấp dịch vụ chỉ số theo yêu cầu khách hàng trên cơ sở toàn cầu.
1.3.5 Từ 2004-2008
Năm 2004, S&P ký một thỏa thuận để mua lại Capital IQ, là một giải pháp thông tin có ảnh hưởng lớn đến đầu tư toàn cầu và cộng đồng dịch vụ tài chính.
Năm 2005, S&P trở thành sở hữu chủ yếu của CRISIL, một nhà cung cấp hàng đầu của Ấn Độ về xếp hạng tín dụng, tin tức tài chính, dịch vụ tư vấn tài chính và rủi ro.
Tại thời điểm này tập đoàn có 6300 nhân viên trải dài trên 20 quốc gia.
Năm 2008, chủ tịch là Deven Sharma, giám đốc điều hành là Jan Plantagic. Với văn phòng mới nhất ở Dubai mở cửa vào 12/2/2008.
Link to full article
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét